Gửi bài viết tới BigCoin

In tiền, lạm phát, và Bitcoin tăng giá

Đăng bởi: admin  - 08/07/2020 - 14110 lượt xem
Chia sẻ
 

Bitcoin được sinh ra vào giữa cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, và năm nay, đại dịch vi rút Corona đã ảnh hưởng vô cùng lớn đến với ảnh hưởng kinh tế, và khiến Bitcoin những tiềm năng vô cùng lớn

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã phơi bày sự yếu đuối trong hệ thống ngân hàng Hoa Kì, những đế chế tài chính độc quyền dường như không thể phá huỷ giống như Lehman Brothers và Bear Stearns cũng đã nằm xuống. Người Mỹ đã mất tổng cộng 9,8 nghìn tỉ đô la. Tuy nhiên, một dạng tiền mới đã được sinh ra – Bitcoin : phi tập trung, giảm phát và hoàn toàn điện tử”. Cuộc suy thoái năm 2008 đặt nền tảng cho việc sinh ra Bitcoin, và những ảnh hưởng kinh tế từ Covid-19 có thể sẽ đặt nền tảng cho Bitcoin toả sáng để tránh được lạm phát và lưu trữ giá trị.

Trong nỗ lực nhằm hỗ trợ tài chính do đại dịch vi rút corona, các ngân hàng trung ương đã đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ các tập đoàn hàng đầu, các doanh nghiệp nhỏ và các khách hàng cá nhân. Chính phủ đã tuyên bố gói hỗ trợ hơn 7 nghìn tỉ đô, trong đó có đến 2,3 nghìn tỉ đô từ Hoa Kỳ, tương đương với 11,2% tổng GDP Hoa Kỳ. Một phần lớn số tiền đó sẽ dùng để mua trái phiếu và các công cụ tài chính khác.

In tiền để mua trái phiếu sẽ làm tăng lượng cung tiền. Ngoài ra, khi chính phủ phân phối tiền cho công dân, sẽ dẫn đến lạm phát đồng đô la Mỹ. Tăng lượng cung tài sản sẽ làm giảm giá trị của chúng trừ phi tỉ lệ tăng bằng với tỉ lệ tương đương. Điều này giúp Bitcoin có cơ hội tăng trưởng do tỉ lệ lạm phát đã bị giảm 1 nửa kể từ đợt Halving Bitcoin vào tháng 5 năm 2020. Giá trị của Bitcoin có thể sẽ tăng do tỉ lệ lạm phát giảm mạnh, trong khi đó các đồng tiền từ chính phủ khắp thế giới có thể sẽ giảm giá trị do lạm phát.

Ảnh hưởng kinh tế do COVID-19 sẽ gây ra 2 tình huống cho Bitcoin : Bitcoin như một công cụ giúp tránh được lạm phát và lưu trữ giá trị, và tiềm năng Bitcoin có thể thay thế tiền pháp định được kiểm soát bởi các chính phủ.

FDR, Nixon và lạm phát

Chúng ta có FED (Cục Dự Trữ Liên Bang) như thế nào? Câu chuyện bắt đầu từ năm 1913 với sự thông qua điều luật Dự Trữ Liên Bang. Điều luật này cho phép tạo ra FED, một ngân hàng trung ương độc lập chuyên phụ trách về các chính sách tiền tệ. FED được quyền kiểm soát nguồn cung tiền, và tỉ lệ lãi suất, cùng với nhiệm vụ giảm thiểu lạm phát và thất nghiệp. Trong nhiều thập kỉ sau đó, FED không hề hoàn thành sứ mệnh.

Cởi bỏ tiêu chuẩn vàng

Từ năm 1913- 1919, đồng Đô La Mỹ đã có giai đoạn lạm phát lên đến 20% mỗi năm. Đó là hậu quả của việc Chính Phủ chi tiêu quá nhiều trong suốt Chiến Tranh Thế Giới thứ 1, và nguồn tài nguyên thì còn hạn chế, do đó, giá thành sản suất và giá sản phẩm ngày càng tăng cao. Trong suốt Thế Chiến Thứ 2, tỉ lệ lạm phát là 13% mỗi năm, dù Chính Phủ đưa ra nhiều giảm phát nhằm kiểm soát lương thưởng và ngăn chặn lạm phát.

Trong suốt quá trình chiến tranh, đồ đô la Mỹ đã trải qua nhiều giai đoạn giảm phát mạnh trong suốt cuộc suy thoái đầu những năm 20 và Đại Suy Thoái trong những năm 1930s. Những đợt giảm phát này đã giúp cân bằng lạm phát, dẫn đến tỉ lệ lạm phát chỉ 1% trong mỗi năm từ 1913 – 1960.

Một lí do khiến khiến Chính Phủ đường đường chính chính sử dụng tiền khiến lạm phát xảy ra là do việc “thoát khỏi neo giá vàng”. Trước Đại Suy Thoái, chính phủ Hoa Kỳ buộc tiền phải được neo vào lượng vàng có trong quỹ. Điều đó cho phép một loạt các giao dịch lớn được hoàn thành mà không cần phải trao đổi hàng tấn vàng. Giá trị của tiền giấy sẽ được đảm bảo bằng quỹ vàng từ chính phủ.

Tại thời điểm bắt đầu Đại Suy Thoái, khi người gửi không còn tin tưởng các thể chế tài chính, họ đã giữ tiền của mình bằng vàng để bảo tồn sự giàu có. Vào năm 1933, FDR đã thông qua luật buộc ngân hàng và người tiêu dùng đổi vàng để lấy tiền giấy, hoàn thành việc xoá bỏ quy chuẩn vàng.

Tiêu chuẩn vàng giúp Chính Phủ kiểm soát nợ, thâm hụt ngân sách và lạm phát. Kể từ đó, FED có thể in tiền bất cứ lúc nào, mà không cần phải neo tiền với bất kì tài sản thực nào.

Vàng và cú sốc từ tổng thống Nixon

Tổng thống Nixon đã khiến ảnh hưởng từ FDR vượt ra ngoài tầm quốc gia năm 1971 khi ông ta chấm dứt hoàn toàn tỉ lệ quy đổi giữa đồng đô la và vàng. Sau đó, những năm 1970 là những năm chứng kiến tỉ lệ lạm phát cao nhất ở Hoa Kì. Trong giống như những lần trước, khi lạm phát là do chiến tranh, giờ đây lạm phát là hậu quả của cú sốc kinh tế.

Vào năm 1973, một đạo luật về dầu được ban hành bởi OPEC chống lại Hoa Kỳ đã làm giá dầu tăng gấp 4 lần, làm tăng giá gas tiêu dùng, tăng giá vận chuyển hàng hoá cũng như chi phí sản xuất các sản phẩm liên quan đến dầu mỏ như nhựa. Kết quả là, giá cả của các ngành tăng cao, dẫn đến lạm phát 2 con số.

Khi giá tăng lên, nhu cầu hàng hoá và dịch vụ lại giảm, dẫn đến doanh thu các doanh nghiệp cũng giảm theo. Đối mặt với nhu cầu giảm dần, mà chi phí thì tăng lên, các công ty buộc phải cắt giảm nhân viên. Thất nghiệp tăng lại làm giảm cầu, buộc công ty phải sa thải nhân công, và tạo ra một vòng tròn luẩn quẩn. Lạm phát cao cùng tỉ lệ thất nghiệp cao gọi là “stagflation”.

Để đối phó với stagflation, FED đã tăng nguồn cung tiền, giảm lãi suất, hi vọng tăng nhu cầu. Nhu cầu ngày càng tăng làm giảm tỉ lệ thất nghiệp nhưng làm tăng giá và chi phí sinh hoạt. Kết quả là người dân cần được trả lương cao hơn, làm tăng chi phí kinh doanh. Chi phí lao động tăng cao khiến các doanh nghiệp sa thải nhiều hơn và tình trạng thất nghiệp lại tăng lên, khiến nhu cầu giảm một lần nữa.

Để ứng phó điều này, FED tiếp túc bơm tiền và hạ lã suất để tăng cầu, bắt đầu lại cái vòng tròn luẩn quẩn đó, và cuối cùng dẫn đến việc lạm phát cao rõ rệt, cùng với tỉ lệ thất nghiệp ngày càng tăng lên. Vào năm 1973, tỉ lệ lạm phát ở mức 8,8%, và cuối thập kỉ, tỉ lệ này đã tăng lên 14%. Các chính trị gia tập trung vào việc làm giảm tỉ lệ thất nghiệp và cung cấp việc làm để kêu gọi phiếu bầu.

Paul Volcker được bổ nhiệm là chủ tịch của FED vào năm 1979, ông tập trung vào việc ứng phó lạm phát. Ông đã làm ngược lại chính sách tiền tệ, tăng lãi suất lên đến 20% và giảm cung tiền. Điều này ban đầu làm giảm mạnh nhu cầu và tỉ lệ thất nghiệp, dến đến cuộc suy thoái năm 1981-1982. Tuy nhiên, lạm pháp đã được hạn chế, và giá cả thì giảm xuống, tăng nhu cầu và cứu nền kinh tế khỏi stagflation.

Covid giúp chúng ta nhận ra…

Tương tự như năm 1970, chúng ta đang trong một cú sốc kinh tế, và lí do cho lần này là đại dichj toàn cầu. Dãn cách xã hội và các biện pháp sức khoẻ khác do các nhà làm chính trị đã cản trở dòng người, hàng hoá và dịch vụ toàn cầu. Việc sản xuất và phân bổ hàng hoá đã dẫn đến cú sốc nguồn cung.

Kết quả là, các doanh nghiệp lớn và nhỏ đã giảm doanh thu, và buộc phải sa thải nhân viên. Trong suốt khoảng thời gian đó, 33 triệu người Mỹ đã bị thất nghiệp, gần 20,5% lực lượng lao động, cao nhất kể từ năm 1934. Trong bối cảnh đó, chúng ta chưa từng thấy tính từ Đại Suy Thoái trong gần 3 năm. Cách nhà đầu tư tích cực gom tiền mặt,dẫn đến cổ phiếu, trái phiếu chính phủ, doanh nghiệp, hàng hoá và thậm chí tiền mã hoá giảm giá. Chỉ số Dow Jones đã giảm hơn 30% từ đỉnh.

Để cải thiện các thiệt hại kinh tế, các nhân hàng đã cùng nhau giảm lãi suất, và nới lỏng định lượng (QE). QE buộc Chính Phủ phải mua nợ dưới hình thức chứng khoán thế chấp và trái phiếu Kho Bạc, và in tiền để hỗ trợ thuế cho cá nhân và tập đoàn.

Lãi suất chỉ còn ở ngưỡng sấp sỉ 0%. Thập chí ở các quốc gia tại Châu Âu và Châu Á, lãi suất âm còn được thử nghiệm, kích thích khách hàng dùng tiền, và rút khỏi các ngân hàng thương mại. Nếu tiền nằm trong tài khoản ngân hàng, khách hàng sẽ phải trả một khoản phí duy trì để làm dương lãi suất, điều đó buộc khách hàng phải rút tiền ra khỏi ngân hàng và chi tiêu.

Các lãnh đạo tại FED, Ngân Hàng Châu Âu và Ngân Hàng Nhật Bản, đã cùng bày tỏ rằng chúng ta đang ở trong một giai đoạn quan trọng trong lịch sử chính sách tiền tệ và tiền pháp định. Lãi suất giảm dần trong vòng 50 năm qua. Hiện nay, lạm phát đã thấp, lãi suất đã giảm dần, FED phải theo các bước của ECB và BoJ bằng việc tạo lại suất âm, hoặc theo các nước của Volcker, và ra tăng lãi suất để cài đặt lại nền kinh tế.

Những cỗ máy in tiền

Trong vòng đầu tiên của gói kích thích kinh tế, hơn 2,3 nghìn tỉ đô (khoảng 11% GDP của Hoa Kì) đã được in và bơm vào nền kinh tế qua gói CARES. Số tiền này hỗ trợ lợi ích cho bộ phận những người thất nghiệp, và chung cấp séc cho khách hàng, hỗ trợ các hộ kinh doanh vừa và nhỏ, các bệnh viện và chính phủ địa phương.

Số tiền này đến từ việc bán trái phiếu Kho Bạc. Vậy ai là người mua nợ của chính phủ? Chính là FED, bên đã tuyên bố gói Nới Lỏng Định Lượng (QE) để giúp chi trả cho các hoạt động của Kho Bạc. Gói QE dùng để mua trái phiếu kho bạc và cổ phiếu thế chấp, nhưng lần này, FED đã làm theo ECB và BoJ bằng việc mua lại nợ của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, Nhật Bản thì không còn lạ lẫm gì với QE. BoJ đã bắt đầu bơm tiền vào nền kinh tế từ đầu những năm 2000 để trống lại giảm phát. Ban đầu, ngân hàng được cung cấp tiền từ chính phủ để khuyến khích cho vay, và do đó tăng cường sự tiêu dùng. Gói QE từ Nhật Bản không hề dẫn đến việc lạm phát như mong muốn, có thể do hạn chế thị trường nợ công và nợ tư. Thời gian trôi đi, việc chính phủ phát hành tiền mới và đưa tiền trực tiếp vào việc thanh toán các gói khuyến khích tiêu dùng cho khác hàng thì có thể gây ra lạm phát nhiều hơn là việc mua trái phiếu kho bạc hay trái phiếu doanh nghiệp.

Cơ Hội To Lớn Từ Bitcoin

In tiền và lãi suất trên khắp thế giới có thể khiến tiền mặt mất sức mua vì lạm phát tăng. Tăng cung thì giá sẽ giảm nếu cầu không tăng với cùng một mức. So sánh với các tài sản lưu trữ giá trị khác như vàng, tiền mặt đã mất hơn 80% sức mua chỉ trong thập kỉ vừa qua.

Theo truyền thống, vàng giúp chống lại lạm phát, và qua các cuộc suy thoái kinh tế, nhà đầu tư đổ sang vàng để lưu trữ giá trị. Không giống tiền mặt, vàng có lượng cung hạn chế và độ hiếm nhất định. Bitcoin cũng có những đặc điểm tương tự, tổng cung giới hạn và độ hiếm từ khi được tạo nên. Giống như vàng Bitcoin sẽ không bị mất giá như tiền mặt.

Hơn thế nữa, Bitcoin càng ngày càng hiếm sau đợt Halving thứ 3 vào tháng 5 năm 2020, một chức năng đã được lập trình sẵn trong giao thức của Bitcoin làm giảm tỉ lệ cung đến 50% mỗi 4 năm. Sự khan hiếm không chỉ là một chức năng đơn thuần, và tỉ lệ cung cũng là một yếu tố. Tỉ lệ lạm phát mỗi năm của Bitcoin cũng giảm chỉ còn 1,8%, thấp hơn lạm phát trung bình của toàn cầu, và thấp hơn tỉ lệ lạm phát của Vàng.

Việc ngày càng khan hiếm có thể được thể hiện của mô hình stock-to-flow hay SF, tỉ lệ giữa lượng Bitcoin tồn tại (stock) và lượng Bitcoin được tạo ra mỗi năm (flow). SF được dùng như một công cụ cơ bản để đo lường giá trị những kim loại quý hiếm và đã được áp dụng vào bitcoin bởi nhà phân tích Plan B. Vàng có SF lớn nhất là 65 và sau đợi Halving năm 2020, chỉ số SF của Bitcoin cũng đạt 58, nhìn chung cao hơn nhiều so với các loại kim loại quý hiểm khác.

Các quốc gia đang phát triển: Hệ thống ngân hàng trung ương yếu kém và Bitcoin trong đời sống

Tiềm năng của Bitcoin như một công cụ lưu trữ giá trị có nhiều tiềm năng tại các quốc gia đang phát triển với hệ thống ngân hàng trung ương yếu kém. Một đợt bùng nổ dịch Covid vừa rồi sẽ tàn phá các quốc gia thế giới thứ 3. Các nền kinh tế một sản phẩm như Venezuela có thể sẽ lại sụp đổ, dẫn đến việc các ngân hàng thế giới thất bại và dần bị phá huỷ.

Các ngân hàng trung ương tại các quốc gia đang phát triển có hệ thống kiểm soát lạm phát khá nghèo nàn. Do từng là thuộc địa, tiền địa phương thường được neo vào tiền của các nước thực dân ở một tỉ giá nhất định. Sau khi thoát khỏi cảnh thuộc địa, từ 1946-1971, tiền trong các quốc gia phát triển được neo vào giá đô la Mỹ ở một tỉ giá cố định. Và sau đó, chính sách này đã thất bại sau khi Mỹ xoá bỏ tiêu chuẩn vàng. Trong suốt những năm 70, các quốc gia đang phát triển phải đối mặt với tỉ lệ lạm phát cao hơn gấp 3 lần trung bình so với các quốc gia tầng 1. Trong khi Mỹ có thể kiểm sót lạm phát từ đầu những năm 1980, thì những quốc gia đang phát triển có tỷ lệ lạm phát hàng năm lên đến 75,7%/

Hệ thống cũ và các chính sách trao đổi tiền tệ sau thuộc địa chính là rào cản khiến việc chống lại lạm phát trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. Việc không tiếp tục neo đồng đô la vào tiêu chuẩn vàng và sự sập đổi của hệ thống tiền tệ cũ đã làm cho những ngân hàng trung ương của các quốc gia đang phát triển phải tự mình xử lý lạm phát. Tất nhiên là họ thất bại thảm hại. Chỉ có một số nhóm quốc gia đang phát triển có thể khống chế ít nhiều, nhưng nhiều trường hợp kể cả đồng rúp Nga cũng chỉ còn 1/4000 giá trị đồng đô la Mỹ năm 1970, cùng với Venezuela, Argentina, Zimbabwe cũng thất bại tương tự.

Kết luận

Covid là một trong những nguyên do trực tiếp giúp người dân và nhà đầu tư nhận ra lỗ hổng của hệ thống hiện tại. Là nhà đầu tư thông minh, nhiều tổ chức đang dần chú ý hơn đến Bitcoin. Grayscale đã cung cấp nhiều thông tin về các tổ chức đầu tư crypto, theo báo cáo có đến hơn 500 triệu đô tiền đổ vào crypto vào Q1 năm 2020, gấp 2 so với đỉnh điểm của lần trước. Bloomberg trong khi đó lại so sánh Bitcoin với vàng, như một nơi lưu trữ tài sản an toàn.

Bitcoin được tạo ra giữa cuộc suy thoái kinh tế năm 2008, và ảnh hưởng kinh tế của đại dịch năm nay đang đặt nền tảng cho Bitcoin bùng nổ.

Theo Abhay Aluri 

 

Thảo luận thêm tại:

Email: Bigcoinvietnam@gmail.com

Hotline: (+84) 972 678 963

Facebook Fanpage: + https://www.facebook.com/Bigcoinvietnam/

Telegram: https://t.me/bigcoinvietnam

Twitter: https://twitter.com/bigcoinvietnam

Youtube channel: https://www.youtube.com/channel/UCSqu48gRo3ClM71WAUgFgxQ

 

 

 

Tags
Chia sẻ  
  
  
  
100% Rating
Điểm: 5 / 5
2 Bình chọn

admin

Mang giá trị lại cho tất cả mọi người

Cypherium là gì? Thế hệ blockchain mới cạnh tranh trực tiếp với Ethereum 2.0


 Cypherium là gì? Sao lại có thể trực tiếp cạnh tranh với blockchain của Ethereum? Cypherium có đáng tin cậy không? Cypherium có thật sự hợp tác với Google, Microsoft, IMB không? Bạn hẳn sẽ quan tâm đến những câu hỏi này nếu bạn là một nhà đầu tư vào CPH hoặc một người theo dõi dự án Cypherium từ lâu. Vậy thì hôm nay chúng ta hãy cùng tìm hiểu tổng quan về dự án này nhé. 

 

1. Cypherium là gì?

 

Cypherium là một nền tảng hợp đồng thông minh có khả năng mở rộng mạnh mẽ. Cơ chế đồng thuận độc quyền có cơ chế đồng thuận Proof-of-Work (PoW) và HotStuff (cũng được thông qua bởi Libra của Facebook) có thể đạt được hàng nghìn giao dịch mỗi giây mà không phải hy sinh phân quyền.

Các đối thủ cạnh tranh của Cypherium bao gồm Cosmos, Polkadot, Libra và Ethereum 2.0. Hiệu suất và khả năng mở rộng của cơ chế đồng thuận của Cypherium tương đương Libra Cosmos, Polkadot, Eth 2.0. Cypherium là blockchain công khai hoàn toàn phi tập trung đầu tiên dựa trên thuật toán đồng thuận Libra.

Một ưu điểm khác của Cypherium so với Libra là chúng tôi không cần phải trải qua quá trình tuân thủ quy định kéo dài ở mọi quốc gia. Cypherium được phân cấp hoàn toàn. Chúng tôi sẽ khởi chạy mainnet trong vòng vài tuần. Trong khi sự ra mắt của Libra vẫn còn rất xa.

 

2. Cypherium giải quyết vấn đề gì?

 

 Cypherium được thành lập vào năm 2017. Theo Sky chia sẻ, đây là lần đầu tiên ông sử dụng hợp đồng thông minh Ethereum và cảm thấy nó thật tuyệt. Tuy nhiên, vì Ethereum không thể mở rộng quy mô, cộng với việc nó không có sự trao đổi, ông nhận ra rằng vấn đề về khả năng mở rộng của Ethereum sẽ ngăn nó được chấp nhận một cách rộng rãi. Từ đây, ông quyết định tạo ra một blockchain tốt hơn để giải quyết những thiếu sót của Ethereum. 

Nhiều dự án blockchain tuyên bố rằng họ đã giải quyết được các vấn đề về khả năng mở rộng của Bitcoin và Ethereum, nhưng điều đó không hoàn toàn đúng. Đầu tiên, nhiều blockchain đang sử dụng các thiết kế tập trung, chẳng hạn như EOS. Thứ hai, chỉ các cơ chế đồng thuận dựa trên Khả năng chịu lỗi của Byzantine mới có tính năng cuối cùng của giao dịch tuyệt đối. Tuy nhiên, thuật toán BFT duy nhất có thể mở rộng đến hàng trăm nút trong khi duy trì hàng nghìn giao dịch mỗi giây là HotStuff, được cả Libra và Cypherium áp dụng. Libra’s HotStuff, hay còn gọi là LibraBFT,  tập trung. Cypherium’s HotStuff hoàn toàn không được phép và phi tập trung. Blockchain của Cypherium hướng tới phục vụ hàng tỷ người dùng với giao dịch hoàn tất tức thì.

EVM và Solidity của Ethereum cũng là rào cản đối với việc áp dụng quy mô lớn hơn. Cypherium sử dụng Máy ảo Java và ngôn ngữ lập trình Java cho các hợp đồng thông minh. Java là ngôn ngữ lập trình phổ biến nhất thế giới, với hơn 10 triệu nhà phát triển trên toàn thế giới và hàng tỷ thiết bị chạy JVM. Bằng cách hỗ trợ Java, Cypherium sẵn sàng đến với thị trường ứng dụng di động và doanh nghiệp.

 

 

3. Cypherium có những sản phẩm gì?

 

Về mặt ứng dụng thực tế cho các doanh nghiệp truyền thống

Vào tháng 2, Cypherium đã cùng nhau phát triển một trường hợp sử dụng của hệ thống nhân sự phi tập trung với công ty nhân sự lớn nhất thế giới, Randstad và Google Cloud. Cypherium đã trở thành thành viên sáng lập của Viện tiền tệ kỹ thuật số, được thành lập bởi tổ chức tư vấn ngân hàng trung ương toàn cầu, OMFIF. Về lâu dài, đội ngũ Cypherium muốn kết nối thị trường Tiền tệ Kỹ thuật số Ngân hàng Trung ương nghìn tỷ đô la trên khắp thế giới. Cypherium đã ký MOU với Tô Châu, một trong những thành phố thí điểm của dự án DC / EP của Trung Quốc. Ngoài ra, Cypherium đã bắt đầu một loạt các cuộc thảo luận với các ngân hàng trung ương về các lựa chọn công nghệ và thiết kế CBDC. Bên cạnh việc tổ chức 1 podcast với Ngân hàng Thái Lan và tuần trước, Cypherium đã có một cuộc thảo luận lịch sử với Ngân hàng Anh, Ngân hàng Quốc gia Thụy Sĩ, Ngân hàng Trung ương Hungary và ING.

Về mặt phát triển sản phẩm trong hệ sinh thái 

 Cypherium đã ra mắt Mainnet và đang dần hoàn thiện ví để đưa lên Google Play và Appstore. Sắp tới Cypherium đã lên kế hoạch ra mắt CypherSwap - sản phẩm DEX của Cypherium và nhiều sản phầm khác trong hệ sinh thái. 

 

4. Mô hình kinh tế token

 

Tên token: CPH

Tổng cung: 800.000.000 CPH

Giá Public sale: 0.25$/token 

Lưu thông ban đầu: 25.000.000$ (theo giá public sale)

Lịch mở khóa: 

Pre-Sale (600 triệu CPH Tokens) 

Tháng 0 - 10% (ra mắt Mainnet)

Tháng 1 - 10%

Tháng 2 - 15%

Tháng 3 - 20%

Tháng 4 - 20%

Tháng 5 - 15%

Tháng 6 - 10%

(mở khóa toàn bộ sau 6 tháng từ khi ra mắt mainnet)

 

Public Sale  (300 triệu CPH Tokens) 

Tháng 0 - 20% (ra mắt Mainnet)

Tháng 1 - 10%

Tháng 2 - 10%

Tháng 3 - 15%

Tháng 4 - 15%

Tháng 5 - 15%

Tháng 6 - 15%

(mở khóa toàn bộ sau 6 tháng từ khi ra mắt mainnet)

 

5. Đội ngũ

 

CEO - Sky Gou. Sky là một nhà cố vấn về UN blockchain, một nhà bình luận trên báo Caixin Media và một tác giả chuyên về Blockchain trên báo Nasdaq. 

CTO - Dr. Slolomo. Ông tốt nghiệp tiến sĩ trường đại học Khoa học và Công nghệ Trung Quốc, là học giả trường đại học Massachussets Amherst và hiện tại đang phụ trách xây dựng cơ sở hạ tầng và cấu trúc dữ liệu cấp cao cho Cypherium. 

Trưởng bộ phận phát triển kinh doanh - James Chang. Ông tốt nghiệp cử nhân trường đại học Cornell. 

Chuyên gia nghiên cứu blockchain - Jake Orbison. Ông tốt nghiệp cử nhân trường đại học Yale và đại học Cambridge. 

Giám đốc phát triển kinh doanh - Hobai Gong

Ngoài ra, Cypherium còn sở hữu một đội ngũ các nhà cố vấn kinh nghiệm đến từ các quỹ lớn như CEO của NV Global Ventures, đối tác tại Ausum Ventures, J Wolf Advisors. 

 

6. Đối tác 

 

Cypherium có thể được coi là một trong số ít những công ty blockchain hợp tác với những công ty lớn về công nghệ như Microsoft, Google, IBM, Amazon,...để đưa blockchain ứng dụng vào thực tế. 

Vào tháng 8, Cypherium đã gia nhập Startup-Flow của Société Générale, một trong những ngân hàng lớn nhất và uy tín nhất trên thế giới. Startup-Flow cam kết tìm kiếm các công ty lớn với tinh thần đổi mới và mang lại các giải pháp đột phá cho lĩnh vực tài chính.

Pháp luôn đi đầu trong các thí nghiệm CBDC của Châu Âu. Vào tháng 5 năm nay, Ngân hàng Trung ương Pháp và Societe Generale đã trở thành quốc gia đầu tiên thử nghiệm thành công đồng euro kỹ thuật số trên blockchain. Cypherium sẽ khám phá và hợp tác với Societe Generale trên CBDC.

Vào năm 2019, Cypherium đã hợp tác với Amazon Web Services để cung cấp cho khách hàng doanh nghiệp dịch vụ blockchain BaaS nền tảng cypherium Enterprise, được chính thức ra mắt trên AWS Marketplace.

Cuối năm 2019, Google đã công bố hợp tác với Cypherium để cùng cải thiện và quảng bá sản phẩm Cypherium Enterprise của dịch vụ doanh nghiệp của mình.

Năm 2020, Cypherium tham gia Chương trình Khởi nghiệp của Microsoft và mục tiêu là trở thành một phần trong blockchain của Microsoft như một dịch vụ (BaaS) trong vài tháng tới. Blockchain Cypherium sử dụng thuật toán đồng thuận hybird Proof of Work (PoW) và HotStuff. Dự án Libra của Facebook cũng được áp dụng.

Ranstad là một trong những công ty nhân lực lớn nhất thế giới và là một trong 500 công ty hàng đầu thế giới. Vào đầu năm nay, Randstad đã thông báo rằng họ đã chọn sử dụng giải pháp blockchain doanh nghiệp của Cypherium. Trường hợp này đã được minh chứng bởi Google Cloud và hiển thị dựa trên trang web chính thức.


7. Tài nguyên

 

 

Website: https://www.cypherium.io/

Twitter: https://twitter.com/cypheriumchain 

Reddit: https://www.reddit.com/r/Cypherium/

Github: https://github.com/cypherium 

Nhóm Cypherium VN: https://t.me/cypheriumvi 

Nhóm Cypherium EN: https://t.me/cypherium_supergroup 

Kênh Cypherium EN: https://t.me/cypherium 

Nhóm thảo luận giá: https://t.me/cypheriumhodlgang 

 

 

8. Kết luận 

 

Cypherium là một dự án lâu đời từ năm 2017 với tầm nhìn thực sự đưa blockchain vào ứng dụng thực tế. Thông qua việc hợp tác với nhiều tay to trong lĩnh vực công nghệ truyền thống, Cypherium đang thành công trong việc quảng bá thương hiệu và trên đường hiện thực hóa tầm nhìn và sứ mệnh đặt ra. Cypherium có một đội ngũ làm việc chuyên nghiệp và tâm huyết trên rất nhiều quốc gia như: Việt Nam, Pháp, Trung Quốc, Hàn Quốc, Italia, Mỹ, vân vân. Trong lĩnh vực blockchain, Cypherium đã 2 lần tổ chức AMA với Binance - 1 trong những sàn có khối lượng giao dịch lớn nhất thế giới, điều này đảm bảo tính an toàn và chính thống của dự án. 

Lợi thế cạnh tranh của Cypherium:

1) Công nghệ blockchain tiên tiến (Đồng thuận bằng chứng công việc kết hợp + HotStuff, hợp đồng thông minh Java) 

2) Quan hệ đối tác kinh doanh mạnh mẽ và tiềm năng tăng trưởng lớn (Google Cloud, Tô Châu, OMFIF) 

3) Ứng dụng nổi bật (ID Randstad trường hợp sử dụng) 

4) Một cộng đồng trung thành và nhiệt tình được thành lập từ năm 2017.

Mặc dù có thể giải thích rằng Cypherium đi chậm mà chắc, hướng tới hoàn thiện sản phẩm cho người dùng nhưng nhiều ý kiến cho rằng Cypherium đang phát triển khá chậm. Sau 3 năm phát triển, hiện nay ví của Cypherium vẫn chưa thực sự hoàn thiện, các sản phẩm khác chưa được ra mắt. Trong khi đó, việc bán token quá nhiều và lâu dẫn đến nhiều nghi ngờ về mặt tài chính của dự án. Hiện nay, tất cả các vòng bán token của Cypherium đã kết thúc, dự án đang chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo là niêm yết token trên sàn và phát triển nhiều sản phẩm, nên mọi người có thể theo dõi thêm. 

 

Thảo luận thêm tại:

Email: Bigcoinvietnam@gmail.com

Hotline: (+84) 972 678 963

Facebook Fanpage:  https://www.facebook.com/Bigcoinvietnam/

Telegram:  https://t.me/bigcoinvietnam

Twitter:  https://twitter.com/bigcoinvietnam

Kênh Youtube: https://www.youtube.com/c/Apaodj

Tags
Chia sẻ  
  
  
  
100% Rating
Điểm: 5 / 5
2 Bình chọn