Gửi bài viết tới BigCoin

In tiền, lạm phát, và Bitcoin tăng giá

Đăng bởi: admin  - 08/07/2020 - 15776 lượt xem
Chia sẻ
 

Bitcoin được sinh ra vào giữa cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, và năm nay, đại dịch vi rút Corona đã ảnh hưởng vô cùng lớn đến với ảnh hưởng kinh tế, và khiến Bitcoin những tiềm năng vô cùng lớn

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã phơi bày sự yếu đuối trong hệ thống ngân hàng Hoa Kì, những đế chế tài chính độc quyền dường như không thể phá huỷ giống như Lehman Brothers và Bear Stearns cũng đã nằm xuống. Người Mỹ đã mất tổng cộng 9,8 nghìn tỉ đô la. Tuy nhiên, một dạng tiền mới đã được sinh ra – Bitcoin : phi tập trung, giảm phát và hoàn toàn điện tử”. Cuộc suy thoái năm 2008 đặt nền tảng cho việc sinh ra Bitcoin, và những ảnh hưởng kinh tế từ Covid-19 có thể sẽ đặt nền tảng cho Bitcoin toả sáng để tránh được lạm phát và lưu trữ giá trị.

Trong nỗ lực nhằm hỗ trợ tài chính do đại dịch vi rút corona, các ngân hàng trung ương đã đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ các tập đoàn hàng đầu, các doanh nghiệp nhỏ và các khách hàng cá nhân. Chính phủ đã tuyên bố gói hỗ trợ hơn 7 nghìn tỉ đô, trong đó có đến 2,3 nghìn tỉ đô từ Hoa Kỳ, tương đương với 11,2% tổng GDP Hoa Kỳ. Một phần lớn số tiền đó sẽ dùng để mua trái phiếu và các công cụ tài chính khác.

In tiền để mua trái phiếu sẽ làm tăng lượng cung tiền. Ngoài ra, khi chính phủ phân phối tiền cho công dân, sẽ dẫn đến lạm phát đồng đô la Mỹ. Tăng lượng cung tài sản sẽ làm giảm giá trị của chúng trừ phi tỉ lệ tăng bằng với tỉ lệ tương đương. Điều này giúp Bitcoin có cơ hội tăng trưởng do tỉ lệ lạm phát đã bị giảm 1 nửa kể từ đợt Halving Bitcoin vào tháng 5 năm 2020. Giá trị của Bitcoin có thể sẽ tăng do tỉ lệ lạm phát giảm mạnh, trong khi đó các đồng tiền từ chính phủ khắp thế giới có thể sẽ giảm giá trị do lạm phát.

Ảnh hưởng kinh tế do COVID-19 sẽ gây ra 2 tình huống cho Bitcoin : Bitcoin như một công cụ giúp tránh được lạm phát và lưu trữ giá trị, và tiềm năng Bitcoin có thể thay thế tiền pháp định được kiểm soát bởi các chính phủ.

FDR, Nixon và lạm phát

Chúng ta có FED (Cục Dự Trữ Liên Bang) như thế nào? Câu chuyện bắt đầu từ năm 1913 với sự thông qua điều luật Dự Trữ Liên Bang. Điều luật này cho phép tạo ra FED, một ngân hàng trung ương độc lập chuyên phụ trách về các chính sách tiền tệ. FED được quyền kiểm soát nguồn cung tiền, và tỉ lệ lãi suất, cùng với nhiệm vụ giảm thiểu lạm phát và thất nghiệp. Trong nhiều thập kỉ sau đó, FED không hề hoàn thành sứ mệnh.

Cởi bỏ tiêu chuẩn vàng

Từ năm 1913- 1919, đồng Đô La Mỹ đã có giai đoạn lạm phát lên đến 20% mỗi năm. Đó là hậu quả của việc Chính Phủ chi tiêu quá nhiều trong suốt Chiến Tranh Thế Giới thứ 1, và nguồn tài nguyên thì còn hạn chế, do đó, giá thành sản suất và giá sản phẩm ngày càng tăng cao. Trong suốt Thế Chiến Thứ 2, tỉ lệ lạm phát là 13% mỗi năm, dù Chính Phủ đưa ra nhiều giảm phát nhằm kiểm soát lương thưởng và ngăn chặn lạm phát.

Trong suốt quá trình chiến tranh, đồ đô la Mỹ đã trải qua nhiều giai đoạn giảm phát mạnh trong suốt cuộc suy thoái đầu những năm 20 và Đại Suy Thoái trong những năm 1930s. Những đợt giảm phát này đã giúp cân bằng lạm phát, dẫn đến tỉ lệ lạm phát chỉ 1% trong mỗi năm từ 1913 – 1960.

Một lí do khiến khiến Chính Phủ đường đường chính chính sử dụng tiền khiến lạm phát xảy ra là do việc “thoát khỏi neo giá vàng”. Trước Đại Suy Thoái, chính phủ Hoa Kỳ buộc tiền phải được neo vào lượng vàng có trong quỹ. Điều đó cho phép một loạt các giao dịch lớn được hoàn thành mà không cần phải trao đổi hàng tấn vàng. Giá trị của tiền giấy sẽ được đảm bảo bằng quỹ vàng từ chính phủ.

Tại thời điểm bắt đầu Đại Suy Thoái, khi người gửi không còn tin tưởng các thể chế tài chính, họ đã giữ tiền của mình bằng vàng để bảo tồn sự giàu có. Vào năm 1933, FDR đã thông qua luật buộc ngân hàng và người tiêu dùng đổi vàng để lấy tiền giấy, hoàn thành việc xoá bỏ quy chuẩn vàng.

Tiêu chuẩn vàng giúp Chính Phủ kiểm soát nợ, thâm hụt ngân sách và lạm phát. Kể từ đó, FED có thể in tiền bất cứ lúc nào, mà không cần phải neo tiền với bất kì tài sản thực nào.

Vàng và cú sốc từ tổng thống Nixon

Tổng thống Nixon đã khiến ảnh hưởng từ FDR vượt ra ngoài tầm quốc gia năm 1971 khi ông ta chấm dứt hoàn toàn tỉ lệ quy đổi giữa đồng đô la và vàng. Sau đó, những năm 1970 là những năm chứng kiến tỉ lệ lạm phát cao nhất ở Hoa Kì. Trong giống như những lần trước, khi lạm phát là do chiến tranh, giờ đây lạm phát là hậu quả của cú sốc kinh tế.

Vào năm 1973, một đạo luật về dầu được ban hành bởi OPEC chống lại Hoa Kỳ đã làm giá dầu tăng gấp 4 lần, làm tăng giá gas tiêu dùng, tăng giá vận chuyển hàng hoá cũng như chi phí sản xuất các sản phẩm liên quan đến dầu mỏ như nhựa. Kết quả là, giá cả của các ngành tăng cao, dẫn đến lạm phát 2 con số.

Khi giá tăng lên, nhu cầu hàng hoá và dịch vụ lại giảm, dẫn đến doanh thu các doanh nghiệp cũng giảm theo. Đối mặt với nhu cầu giảm dần, mà chi phí thì tăng lên, các công ty buộc phải cắt giảm nhân viên. Thất nghiệp tăng lại làm giảm cầu, buộc công ty phải sa thải nhân công, và tạo ra một vòng tròn luẩn quẩn. Lạm phát cao cùng tỉ lệ thất nghiệp cao gọi là “stagflation”.

Để đối phó với stagflation, FED đã tăng nguồn cung tiền, giảm lãi suất, hi vọng tăng nhu cầu. Nhu cầu ngày càng tăng làm giảm tỉ lệ thất nghiệp nhưng làm tăng giá và chi phí sinh hoạt. Kết quả là người dân cần được trả lương cao hơn, làm tăng chi phí kinh doanh. Chi phí lao động tăng cao khiến các doanh nghiệp sa thải nhiều hơn và tình trạng thất nghiệp lại tăng lên, khiến nhu cầu giảm một lần nữa.

Để ứng phó điều này, FED tiếp túc bơm tiền và hạ lã suất để tăng cầu, bắt đầu lại cái vòng tròn luẩn quẩn đó, và cuối cùng dẫn đến việc lạm phát cao rõ rệt, cùng với tỉ lệ thất nghiệp ngày càng tăng lên. Vào năm 1973, tỉ lệ lạm phát ở mức 8,8%, và cuối thập kỉ, tỉ lệ này đã tăng lên 14%. Các chính trị gia tập trung vào việc làm giảm tỉ lệ thất nghiệp và cung cấp việc làm để kêu gọi phiếu bầu.

Paul Volcker được bổ nhiệm là chủ tịch của FED vào năm 1979, ông tập trung vào việc ứng phó lạm phát. Ông đã làm ngược lại chính sách tiền tệ, tăng lãi suất lên đến 20% và giảm cung tiền. Điều này ban đầu làm giảm mạnh nhu cầu và tỉ lệ thất nghiệp, dến đến cuộc suy thoái năm 1981-1982. Tuy nhiên, lạm pháp đã được hạn chế, và giá cả thì giảm xuống, tăng nhu cầu và cứu nền kinh tế khỏi stagflation.

Covid giúp chúng ta nhận ra…

Tương tự như năm 1970, chúng ta đang trong một cú sốc kinh tế, và lí do cho lần này là đại dichj toàn cầu. Dãn cách xã hội và các biện pháp sức khoẻ khác do các nhà làm chính trị đã cản trở dòng người, hàng hoá và dịch vụ toàn cầu. Việc sản xuất và phân bổ hàng hoá đã dẫn đến cú sốc nguồn cung.

Kết quả là, các doanh nghiệp lớn và nhỏ đã giảm doanh thu, và buộc phải sa thải nhân viên. Trong suốt khoảng thời gian đó, 33 triệu người Mỹ đã bị thất nghiệp, gần 20,5% lực lượng lao động, cao nhất kể từ năm 1934. Trong bối cảnh đó, chúng ta chưa từng thấy tính từ Đại Suy Thoái trong gần 3 năm. Cách nhà đầu tư tích cực gom tiền mặt,dẫn đến cổ phiếu, trái phiếu chính phủ, doanh nghiệp, hàng hoá và thậm chí tiền mã hoá giảm giá. Chỉ số Dow Jones đã giảm hơn 30% từ đỉnh.

Để cải thiện các thiệt hại kinh tế, các nhân hàng đã cùng nhau giảm lãi suất, và nới lỏng định lượng (QE). QE buộc Chính Phủ phải mua nợ dưới hình thức chứng khoán thế chấp và trái phiếu Kho Bạc, và in tiền để hỗ trợ thuế cho cá nhân và tập đoàn.

Lãi suất chỉ còn ở ngưỡng sấp sỉ 0%. Thập chí ở các quốc gia tại Châu Âu và Châu Á, lãi suất âm còn được thử nghiệm, kích thích khách hàng dùng tiền, và rút khỏi các ngân hàng thương mại. Nếu tiền nằm trong tài khoản ngân hàng, khách hàng sẽ phải trả một khoản phí duy trì để làm dương lãi suất, điều đó buộc khách hàng phải rút tiền ra khỏi ngân hàng và chi tiêu.

Các lãnh đạo tại FED, Ngân Hàng Châu Âu và Ngân Hàng Nhật Bản, đã cùng bày tỏ rằng chúng ta đang ở trong một giai đoạn quan trọng trong lịch sử chính sách tiền tệ và tiền pháp định. Lãi suất giảm dần trong vòng 50 năm qua. Hiện nay, lạm phát đã thấp, lãi suất đã giảm dần, FED phải theo các bước của ECB và BoJ bằng việc tạo lại suất âm, hoặc theo các nước của Volcker, và ra tăng lãi suất để cài đặt lại nền kinh tế.

Những cỗ máy in tiền

Trong vòng đầu tiên của gói kích thích kinh tế, hơn 2,3 nghìn tỉ đô (khoảng 11% GDP của Hoa Kì) đã được in và bơm vào nền kinh tế qua gói CARES. Số tiền này hỗ trợ lợi ích cho bộ phận những người thất nghiệp, và chung cấp séc cho khách hàng, hỗ trợ các hộ kinh doanh vừa và nhỏ, các bệnh viện và chính phủ địa phương.

Số tiền này đến từ việc bán trái phiếu Kho Bạc. Vậy ai là người mua nợ của chính phủ? Chính là FED, bên đã tuyên bố gói Nới Lỏng Định Lượng (QE) để giúp chi trả cho các hoạt động của Kho Bạc. Gói QE dùng để mua trái phiếu kho bạc và cổ phiếu thế chấp, nhưng lần này, FED đã làm theo ECB và BoJ bằng việc mua lại nợ của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, Nhật Bản thì không còn lạ lẫm gì với QE. BoJ đã bắt đầu bơm tiền vào nền kinh tế từ đầu những năm 2000 để trống lại giảm phát. Ban đầu, ngân hàng được cung cấp tiền từ chính phủ để khuyến khích cho vay, và do đó tăng cường sự tiêu dùng. Gói QE từ Nhật Bản không hề dẫn đến việc lạm phát như mong muốn, có thể do hạn chế thị trường nợ công và nợ tư. Thời gian trôi đi, việc chính phủ phát hành tiền mới và đưa tiền trực tiếp vào việc thanh toán các gói khuyến khích tiêu dùng cho khác hàng thì có thể gây ra lạm phát nhiều hơn là việc mua trái phiếu kho bạc hay trái phiếu doanh nghiệp.

Cơ Hội To Lớn Từ Bitcoin

In tiền và lãi suất trên khắp thế giới có thể khiến tiền mặt mất sức mua vì lạm phát tăng. Tăng cung thì giá sẽ giảm nếu cầu không tăng với cùng một mức. So sánh với các tài sản lưu trữ giá trị khác như vàng, tiền mặt đã mất hơn 80% sức mua chỉ trong thập kỉ vừa qua.

Theo truyền thống, vàng giúp chống lại lạm phát, và qua các cuộc suy thoái kinh tế, nhà đầu tư đổ sang vàng để lưu trữ giá trị. Không giống tiền mặt, vàng có lượng cung hạn chế và độ hiếm nhất định. Bitcoin cũng có những đặc điểm tương tự, tổng cung giới hạn và độ hiếm từ khi được tạo nên. Giống như vàng Bitcoin sẽ không bị mất giá như tiền mặt.

Hơn thế nữa, Bitcoin càng ngày càng hiếm sau đợt Halving thứ 3 vào tháng 5 năm 2020, một chức năng đã được lập trình sẵn trong giao thức của Bitcoin làm giảm tỉ lệ cung đến 50% mỗi 4 năm. Sự khan hiếm không chỉ là một chức năng đơn thuần, và tỉ lệ cung cũng là một yếu tố. Tỉ lệ lạm phát mỗi năm của Bitcoin cũng giảm chỉ còn 1,8%, thấp hơn lạm phát trung bình của toàn cầu, và thấp hơn tỉ lệ lạm phát của Vàng.

Việc ngày càng khan hiếm có thể được thể hiện của mô hình stock-to-flow hay SF, tỉ lệ giữa lượng Bitcoin tồn tại (stock) và lượng Bitcoin được tạo ra mỗi năm (flow). SF được dùng như một công cụ cơ bản để đo lường giá trị những kim loại quý hiếm và đã được áp dụng vào bitcoin bởi nhà phân tích Plan B. Vàng có SF lớn nhất là 65 và sau đợi Halving năm 2020, chỉ số SF của Bitcoin cũng đạt 58, nhìn chung cao hơn nhiều so với các loại kim loại quý hiểm khác.

Các quốc gia đang phát triển: Hệ thống ngân hàng trung ương yếu kém và Bitcoin trong đời sống

Tiềm năng của Bitcoin như một công cụ lưu trữ giá trị có nhiều tiềm năng tại các quốc gia đang phát triển với hệ thống ngân hàng trung ương yếu kém. Một đợt bùng nổ dịch Covid vừa rồi sẽ tàn phá các quốc gia thế giới thứ 3. Các nền kinh tế một sản phẩm như Venezuela có thể sẽ lại sụp đổ, dẫn đến việc các ngân hàng thế giới thất bại và dần bị phá huỷ.

Các ngân hàng trung ương tại các quốc gia đang phát triển có hệ thống kiểm soát lạm phát khá nghèo nàn. Do từng là thuộc địa, tiền địa phương thường được neo vào tiền của các nước thực dân ở một tỉ giá nhất định. Sau khi thoát khỏi cảnh thuộc địa, từ 1946-1971, tiền trong các quốc gia phát triển được neo vào giá đô la Mỹ ở một tỉ giá cố định. Và sau đó, chính sách này đã thất bại sau khi Mỹ xoá bỏ tiêu chuẩn vàng. Trong suốt những năm 70, các quốc gia đang phát triển phải đối mặt với tỉ lệ lạm phát cao hơn gấp 3 lần trung bình so với các quốc gia tầng 1. Trong khi Mỹ có thể kiểm sót lạm phát từ đầu những năm 1980, thì những quốc gia đang phát triển có tỷ lệ lạm phát hàng năm lên đến 75,7%/

Hệ thống cũ và các chính sách trao đổi tiền tệ sau thuộc địa chính là rào cản khiến việc chống lại lạm phát trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. Việc không tiếp tục neo đồng đô la vào tiêu chuẩn vàng và sự sập đổi của hệ thống tiền tệ cũ đã làm cho những ngân hàng trung ương của các quốc gia đang phát triển phải tự mình xử lý lạm phát. Tất nhiên là họ thất bại thảm hại. Chỉ có một số nhóm quốc gia đang phát triển có thể khống chế ít nhiều, nhưng nhiều trường hợp kể cả đồng rúp Nga cũng chỉ còn 1/4000 giá trị đồng đô la Mỹ năm 1970, cùng với Venezuela, Argentina, Zimbabwe cũng thất bại tương tự.

Kết luận

Covid là một trong những nguyên do trực tiếp giúp người dân và nhà đầu tư nhận ra lỗ hổng của hệ thống hiện tại. Là nhà đầu tư thông minh, nhiều tổ chức đang dần chú ý hơn đến Bitcoin. Grayscale đã cung cấp nhiều thông tin về các tổ chức đầu tư crypto, theo báo cáo có đến hơn 500 triệu đô tiền đổ vào crypto vào Q1 năm 2020, gấp 2 so với đỉnh điểm của lần trước. Bloomberg trong khi đó lại so sánh Bitcoin với vàng, như một nơi lưu trữ tài sản an toàn.

Bitcoin được tạo ra giữa cuộc suy thoái kinh tế năm 2008, và ảnh hưởng kinh tế của đại dịch năm nay đang đặt nền tảng cho Bitcoin bùng nổ.

Theo Abhay Aluri 

 

Thảo luận thêm tại:

Email: Bigcoinvietnam@gmail.com

Hotline: (+84) 972 678 963

Facebook Fanpage: + https://www.facebook.com/Bigcoinvietnam/

Telegram: https://t.me/bigcoinvietnam

Twitter: https://twitter.com/bigcoinvietnam

Youtube channel: https://www.youtube.com/channel/UCSqu48gRo3ClM71WAUgFgxQ

 

 

 

Tags
Chia sẻ  
  
  
  
100% Rating
Điểm: 5 / 5
2 Bình chọn

admin

Mang giá trị lại cho tất cả mọi người

Work Quest (WQT) là gì? Tìm hiểu về token WQT


1. Ý tưởng dự án

Work Quest là marketplace phi tập trung kết nối người sử dụng lao động với người lao động dựa trên Hợp đồng thông minh do DAO quản lý. Trên nền tảng của Work Quest, tất cả phản hồi của người sử dụng lao động và người lao động sẽ được lưu trữ trong một chuỗi khối và sắp xếp thành một hệ thống xếp hạng tạo thành một nguồn tham chiếu trung thực và đáng tin cậy. 

 

Vì nền tảng hoạt động như một công cụ hỗ trợ các giao dịch giữa người sử dụng lao động và nhân viên, Work Quest tích hợp thêm các sản phẩm DeFi khác nhau cho những người tham gia nền tảng, chẳng hạn như tiền bảo hiểm, lương hưu, tiết kiệm,.. Work Quest sẽ có các ứng dụng dành cho thiết bị di động hoạt động ở mọi nơi đồng thời có thể sử dụng ví và blockchain Work Net của riêng nó.

 

2. Cơ chế hoạt động

Work Quest hoạt động dựa trên cơ chế của một mạng DAO với các đặc điểm sau:

  • Quản trị cộng đồng: tất cả các tính năng quản trị sẽ được chuyển giao cho cộng đồng trong vòng 3 năm
  • Tính minh bạch: tất cả tính năng và sản phẩm sẽ được công bố rộng rãi cho cộng đồng để đảm bảo rằng bất cứ ai cũng có quyền truy cập vào những thông tin đó
  • Tính toàn cầu: để có thể tham gia vào nền tảng quản trị thì bất cứ ai mua token WQT có thể tham gia
  • Bảo mật và đáng tin cậy: nền tảng sẽ sử dụng Aragon để tạo và quản lý DAO

 

3. Sản phẩm

Sản phẩm của Work Quest chính là nền tảng với các tính năng cụ thể như sau:

  • Về phí: 1% trên smart contract và 1% với phí rút hoặc giao dịch
  • Phương thức thanh toán: thanh toán quốc tế và bất cứ ai cũng có thể sử dụng dễ dàng thông qua Work USD
  • Bảo mật: cả nhà tuyển dụng và người tuyển dụng có thể tạo profile và trải qua quá trình KYC. Dữ liệu người dùng sẽ được bảo mật và lưu trữ trên blockchain và các oracle phi tập trung
  • Dữ liệu người dùng: nền tảng cung cấp bảo mật và mã hoá dữ liệu cá nhân thông qua công nghệ 2FA
  • Tiếp cận thị trường: bất kỳ ai nếu có khả năng truy cập vào internet có thể trở thành nhà tuyển dụng và người lao động thông qua nền tảng.

 

4. Thành viên team

  • Founder và CEO: Andril Kotsur. Ông là người có kinh nghiệm trong lĩnh vực digital currency, quản lý đội nhóm và xây dự̣ng mối quan hệ. Ông là nhà sáng lập và sáng tạo nội dung cho các dự án mới.
  • Thiết kế dự án: Lovska Myroslav. Ông là người có kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vự̣c thiết kế, UI/UX, thương hiệu, marketing chiến lược và quảng cáo trên các phương tiện truyền thông. 
  • Giám đốc công nghệ thông tin: Seshu B Kanuri. Ông có kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính, bảo hiểm tại một số doanh nghiệp như Paypal, Citibank, BofA, Morgan Stanley, Chase. Hiện tại ông là Co-founder và CEO của Netweb Group.
  • Cố vấn: Sergei Nikolaev. Ông là trưởng dự án của Attis Group và có kinh nghiệm phát triển 2 dự án toàn cầu là Interbank Settlement system và State Pension System.

 

5. Nhà đầu tư và đối tác

Nhà đầu tư

Đối tác

6. Token Metrics

Thông tin token

  • Tên Token: WQT
  • Tổng cung: 100,000,000 WQT
  • Tổng token bán: 8,750,000 WQT
  • Initial market cap: $520,000*
  • Initial circulating supply: 2,600,000 WQT*
  • Thanh khoản bị lock trên Uniswap: $327,500

* — không tính thanh khoản

 

Phân bổ token

  • Quỹ dự trữ: 10,000,000 WQT
  • Staking: 26,250,000 WQT
  • WQT Team: 10,000,000 WQT
  • WQT Liquidity: 15,000,000 WQT
  • Marketing: 10,000,000 WQT
  • Quỹ bảo hiểm P2P: 10,000,000 WQT
  • Hệ sinh thái WQT và đối tác: 10,000,000 WQT

 

Token Sale

Seed round

  • Tổng vốn: $360,000
  • Giá token: $0,12/WQT
  • Lượng token: 3,000,000 WQT
  • Released on listing: 20% (600,000 WQT)
  • Lịch vesting: 25% - 30 days sau listing, 25% - 60 days sau listing, 30% - 90 days sau listing.

Private round

  • Tổng vốn: $800,000
  • Giá token: $0,16/WQT
  • Lượng token: 5,000,000 WQT
  • Released on listing: 25% (1,250,000 WQT)
  • Lịch vesting: 25% - hàng tháng trong 3 tháng

Public round

  • Tổng vốn: $150,000
  • Giá token: $0,2 WQT
  • Lượng token: 750,000 WQT
  • Lịch vesting: unlocked toàn bộ

 

7. Lộ trình phát triển

8. Tài nguyên dự án

- Website: www.workquest.co 
- Telegram chat: https://t.me/WorkQuestChat 
- Twitter: https://twitter.com/workquest_co 

 

Có thể thấy dự án Work Quest mang đến cho người dùng những giải pháp khá toàn diện và đặc biệt hoạt động tập trung vào cơ chế bảo mật dữ liệu sẽ khiến cho người dùng cảm giác tin cậy hơn. Tuy nhiên hiện tại, chương trình phát triển sản phẩm mới triển khai ở bước đầu tiên nên cần tiếp tục theo dõi dự án. Nhà đầu tư và đối tác cũng không thật sự ấn tượng nên nếu anh em nào quan tâm đầu tư cần nghiên cứu thêm nữa. Đây là bài phân tích dự án, không phải là lời khuyên đầu tư. Mọi hoạt động đầu tư đề có rủi ro, anh em nên cân nhắc trước khi đưa ra quyết định của mình. 

 

Thảo luận thêm tại:

Email: Bigcoinvietnam@gmail.com 

Hotline: (+84) 972 678 963

Facebook Fanpage:  https://www.facebook.com/Bigcoinvietnam/

Telegram:  https://t.me/bigcoinvietnam

Twitter:  https://twitter.com/bigcoinvietnam

Kênh Youtube: https://www.youtube.com/c/Apaodj

Tags
Chia sẻ  
  
  
  
100% Rating
Điểm: 5 / 5
2 Bình chọn