Gửi bài viết tới BigCoin

Trái tim của Enecuum-Proof of Activity một thuật toán công việc đầy hứa hẹn

Đăng bởi:   - 05/05/2018 - 948 lượt xem
Chia sẻ
 

Trái tim của Enecuum-Proof of Activity một thuật toán công việc đầy hứa hẹn

Proof of Work, Proof of Stake, Proof of Space, Proof of Authority, các phiên bản khác, cũng như là các thuật toán lai ghép, một trong những thuật toán đó là Proof of Activity hay là Bằng chứng Hoạt động. Đó chính là chủ đề chính trong bài báo này.

Theo như phía Microsoft thì các thuật toán đồng thuận là những công cụ tin cậy nhất là điều kiện tiên quyết trong cạnh tranh về blockchain. Đến nay, công ty này đã và đang sử dụng một vài các giao thức protocol khác nhau để xác minh các bản ghi chép lưu trữ dữ liệu như là: Proof of Work, Proof of Stake, Proof of Space, Proof of Authority, các phiên bản biến thể, và một trong những thuật toán lai ghép có tên là Proof of Activity mà chúng ta sắp nói đến (ngoài ra thì cũng có các thuật toán khác như Proof of Burn, Proof of Capacity, Proof of Storage, vv nhưng những phiên bản này thì ít thông dụng hơn).

Chúng tôi sẽ chỉ tập trung vào hệ thống lai ghép Proof of Activity. Tuy nhiên chúng tôi đề xuất mọi người nên đọc thêm về các thuật toán khác để hiểu được nguyên tắc vận hành của Proof of Activity một cách sâu sắc hơn.

Nguyên tắc vận hành

Thuật toán này được tạo ra từ rất lâu rồi (khoảng từ năm 2014) và được gọi là thuật toán lai ghép với lí do là: nó kết hợp các đặc tính của Proof of Work và Proof of Stake.

Quá trình đưa các bản ghi chép vào trong blockchain bắt đầu từ việc những miners hay là các thợ đào chuẩn bị nguyên liệu cho các khối trống (khối chưa chứa giao dịch) với mã hash của khối trước đó, dữ liệu cá nhân (địa chỉ công khai), index của khối hiện tại và mã code riêng cho phiên làm việc đó. Sau khi tạo ra một block header trống (phần đầu mục của một khối), nếu header đó đạt tiêu chuẩn về độ phức tạp hiện thời, node sẽ gửi header đó tới mạng lưới. Những khối trống sẽ phải chứa một con số không lớn hơn con số được yêu cầu bởi hệ thống. Chú ý: Không cần phải tính toán toàn bộ khối các giao dịch trong suốt quá trình xử lý, như là trong POW, những xử lý như vậy cần đến một lượng điện năng tiêu thụ ít hơn nhiều. Và với trường hợp như vậy, thì thực tế bất kỳ ai cũng có thể trở thành một PoS miner (khái niệm kết hợp: thợ đào PoS, mọi người có thể tìm hiểu thêm khi đọc về POS), và trong trường hợp này họ được gọi là stakeholder hay là những người nắm giữ cổ phần. Khối trống sẽ phải được thêm chữ ký từ một số lượng nhất định những người nắm giữ cổ phần, rồi sau đó một khối hoàn chỉnh được tạo ra và được đưa vào blockhchain. Nếu bất cứ người nắm giữ cổ phần nào (người cho chữ ký) mà vắng mặt hoặc không tham gia, những khối trống được tạo ra với những người nắm giữ còn lại.

Và kết quả là, phần thượng cho việc tạo ra khối được chia đều phân tán cho những thợ đào và người giữ cổ phân, như vậy sẽ khiến cho hệ thống tránh được việc những thợ đào chiếm quá nhiều lợi thế. Thực chất như vậy, một mức độ bảo vệ cao hơn sẽ được tạo ra. Token cho quá trình đào khối được tích cóp trung bình mỗi ngày một lần; để chống lại việc số đông năng lượng tính toán sẽ bị tập trung, tấn công sẽ xảy ra.

Bạn có thể quan tâm đến: ethereum là gì

Những tính chất riêng biệt của PoA

Có một số phần để bảo vệ thuật toán này. Phần đầu tiên sẽ bao gồm những khối trống đóng vai trò như một điểm bảo vệ dữ liệu, mỗi điểm này sẽ mang thông tin về các khổi trước đó được xác nhận mở các thành viên tham gia mạng lưới nhưng nó không bao gồm toàn bộ các giao dịch. Bố trí như vậy là cần thiết bởi vì hiệu suất của POA được phân chia rõ ràng giữa thợ đào PoW(những người tạo ra coin) và những người giữ cổ phần PoS (những người xác nhận giao dịch). Điều này sẽ giảm thiểu lưu lượng phải tải trong mạng; cũng là lý do mà tại sao thuật toán này lại yêu cầu trao đổi dữ liệu vĩnh viễn để xây dựng lên 1 khối chứa các giao dịch: trong ngôn ngữ thường này, thì các thợ đào là những người bắt đầu công việc, và những người giữ cổ phần là những người sẽ kết thúc quá trình.

Một cấp độ bảo vệ khác- thuật toán- khiến cho mạng lưới không thể bị điều khiển bởi một thành viên cá biệt nào, thậm chí nếu có một vị thánh như chúa Giê-xu nắm giữ tới một nửa số coin trong mạng: người đó sẽ không thể tạo ra các khối mới. Những thợ đào sẽ đơn giản đào thải bất kì khối trống nào ra khỏi mạng lưới để nếu các khổi trống đó tạo điều kiện cho cho hacker tấn công.

Do vậy, thuật toán POA hoàn toàn là một thuật toán lai ghép hiệu quả, tất cả các thành viên bảo vệ, hỗ trỡ lẫn nhau: quá trình đào POA không cho phép những thợ đào PoA hay những thợ đào PoS tấn công mạng.

Thực thi trên thực tế

Theo bitcoin vietnam Hiện tại, chỉ có 2 dự án blockchain khác nhau sử dugj PoA: đầu tiên là dự án Decred thành lập năm 2015 và một dự án mới đó là Enecuum. Đáng ra dự án Decred cũng nên được chú ý tuy nhiên sự án này lại không bày tỏ quan điểm rõ ràng rằng họ có hỗ trợ phát triển thuật toán PoA hay không, do vậy chúng tôi chỉ miễn cưỡng cho vào danh sách này. Decred là một crypto (DCR) tập trung vào hệ thống lai ghép (POW/POS) mà không định nghĩa trực tiếp về PoA. Mô tả của họ rõ ràng có hướng đến hệ thống lai ghép này và được dùng để đảm bảo rằng một nhóm nhỏ sẽ không thể nào chiếm được quyền hạn trong chuỗi các giao dịch hay tạo ra thay đổi trong Decred mà không có sự chấp thuận của tất cả cộng đồng. Triết lý của dự án đảm bảo sự tham gia đầy đủ và rộng mở của bất cứ người nào muốn tham gia. Do vậy dù không tự gọi là PoA nhưng Decred cũng tuân theo quy tắc tương tự của thuật toán này.

Dự án thứ 2, Enecuum, đề xuất rất rõ ràng là họ sử dụng giao thức POA. Tất cả những thiết bị tham gia vào hệ thống đều cũng sẽ có quyền xác nhận giao dịch, như vậy sẽ giúp đạt được mức độ phân tán tối đa cho hệ thông và chống lại rất nhiều loại tấn công. Và kéo theo là hiệu suất của hệ thộng được đảm bảo như miêu tả bên trên. Những thợ đào tìm kiếm một con số thích hợp cho các block (kích thước đa dạng) giống như hệ thống PoW, người chiến thắng sẽ được thêm các giao dịch vào khối, rồi, trong chặng thứ hai, khối mới được kí xác nhận bởi 64 chủ node ngẫu nhiên. Sau đó, bản ghi chép sẽ được check lại bởi những người chủ node khác (cũng là ngẫu nhiên), rồi đến phần PoS, chủ node nào mà có thời gian tham gia mạng lưới lâu nhất thì sẽ có nhiều khả năng tham gia vào quá trình kiểm toán. Do vậy, quá trình bao gồm 3 chặng và những thành viên nhận được phần thưởng theo như cơ chế sau: 70% sẽ dành cho thợ đào đầu tiên, 20% được chia cho 64 người ký xác nhận giao dịch và 10% sẽ dành cho người kiểm toán.

Dự án Enecuum vẫn chưa hoàn toàn được khởi động: hiện tại mới chỉ có cơ chế đào được khởi động, trong khi đó thì việc phát token và quá trình đào công khai vẫn còn đang trong giai đoạn chuẩn bị. Mô phỏng testnet, main net sẽ sớm được khởi động, phát hành token được dự định trong tháng 5. Hơn nữa, code PoA đã được công khải trên github.

Kết luận

Thuật toán Proof of Activity cải tiến này vẫn chưa được sử dụng rộng rãi, tuy nhiên mọi người cũng thấy được nó mang đầy đủ lợi thế của thuật toán PoW và PoS, đặc biệt hơn là nó còn kết hợp được những lợi thế đó, những thành viên tham gia vào dự án này đặc biệt bị hấp dẫn với những đặc tính của nó như chi phí được giảm thiểu rõ ràng, và độ bảo mật cũng tăng lên đáng kể.

Nguồn : https://bigcoinvietnam.com/

Bạn đang đọc bài viết: Trái tim của Enecuum-Proof of Activity một thuật toán công việc đầy hứa hẹn

Tại chuyên mục: Phân tích

Truy cập: Telegram của Enecuum để tham gia thảo luận

Chia sẻ  
  
  
  
100% Rating
Điểm: 5 / 5
2 Bình chọn

Tôi là một người đam mê công nghệ, theo chủ nghĩa vị lai, và là một thành viên tích cực của core team Bigcoinvietnam.

Nervos là gì? Phân tích tổng quan về dự án Nervos


1. Thông tin chung về Nervos

Tổng cung token: N/A

Tổng cung ban đầu: 33,6 tỉ CKB

Phần trăm bán ra: 20%

Tổng cung lưu thông ban đầu: 12,375,988,800 CKB (không khóa)

Thời điểm phát hành token: Khi ra Mainnet, quý 4 năm 2019

Giá token: 0.01 USD/1CKB

2. Tại sao Nervos lại được ra đời?

Như chúng ta đã thấy, Bitcoin là blockchain (chuỗi khối) an toàn, bảo mật và đáng tin cậy nhất trong việc lưu trữ giá trị. Tuy nhiên, Bitcoin lại chỉ có thể lưu trữ token của riêng mạng lưới- BTC và không được thiết kế nhằm đưa ra các giải pháp mở rộng trong tương lai.

Trong khi đó, Ethereum là nền tảng hợp đồng thông minh và token được sử dụng nhiều nhất hiện nay. Mặc dù vậy, giá trị được sản sinh trên mạng lưới lại không quyết định nên giá ETH và mô hình “mua một lần, dùng mãi mãi” khiến nhiều người nắm giữ ETH phải điêu đứng do tính bất ổn định về giá.

Và đó chính là lí do tại sao Nervos được sinh ra đời, giúp giải quyết những thách thức lớn nhất mà các khối chuỗi khác như Bitcoin và Ethereum đang đối mặt ngày nay. Cụ thể hơn, CKB của Nervos (CKB là viết tắt của Common Knowledge Base- Nền tảng kiến thức chung) có vai trò như lớp 1, là giao thức khối chuỗi công theo cơ chế đồng thuận bằng chứng công việc trong Mạng Lưới Nervos. Giao thức cho phép các tài sản mã hóa được lưu trữ an toàn, không thay đổi được và công cộng như bản chất đồng Bitcoin, trong khi tạo điều kiện cho các hợp đồng thông minh, giải pháp mở rộng lớp 2 hoạt động, và lưu giữ toàn bộ giá trị mạng lưới thông qua thiết kế kinh tế mã hóa và token mạng lưới, đồng CKB.

3. Nervos giải quyết vấn đề như thế nào?

Như các bạn đã biết, Bitcoin là một mạng lưới thanh toán ngang hàng và có giá trị lưu trữ phi tập trung. Trong khi đó, CKB được sinh ra thừa hưởng các yếu tố tuyệt vời đó của Bitcoin, nhưng nâng cấp hơn nhờ hỗ trợ hàng loạt, không giới hạn tiền điện tử, tài sản mã hóa, và các giao dịch vượt xa việc thanh toán thông thường.

Trong cấu trúc mạng lưới Nervos, Nervos CKB là chuỗi khối Bằng Chứng Công Việc lớp 1 tạo nền tảng cho các giao thức lớp 2 giúp tích hợp và giải quyết vấn đề mở rộng. Nguyên tắc thiết kế phần cốt lõi tại Nervos có nêu ra rằng chính những giải pháp như “side-chain”, “plasma chain” và “state channel” là những giải pháp tốt nhất để giải quyết vấn đề mở rộng. Thay vì việc “cải thiện” lớp một bằng hàng loạt các cơ chế đồng thuận “mới tinh, chưa được thử nghiệm”, Nervos sẽ tận dụng các giải pháp lớp 2 để “mở rộng” khả năng xử lí giao dịch của chuỗi khối và giảm thiểu tối đa phí giao dịch, trong khi đó, mạng lưới blockchain vẫn bảo mật, công cộng và phi tập trung, thúc đẩy các doanh nghiệp, nhà phát triển và người dùng xây dựng và sử dụng các Dapps, giao thức hay blockchain khác trên mạng lưới.

Tóm lại, chuối khối của Nervos sẽ đảm bảo những đặc điểm đầy tiềm năng như khả năng mở rộng không giởi hạn, hiệu suất cao, chi phí giao dịch bằng 0 với “tốc độ ánh sáng”, và tính linh hoạt trong mạng lưới.

Đi sâu vào giải pháp lớp 2 của Nervos…

Giải pháp lớp 2 của Nervos có tên là Axon, giải pháp lớp 2 chuỗi cạnh (side chain) của Nervos CKB được xây dựng bởi đội ngũ cốt lõi của dự án. Axon được kì vọng sẽ cung cấp một môi trường thực hiện hợp đồng thông minh với hiệu suất cao và tận dụng chuỗi khối lớp 1 để triển khai hàng loạt các ứng dụng phi tập trung với chi phí thấp và hiệu suất cao.

Axon đưa ra khung kết nối giúp các nhà phát triển (developers) xây dựng một chuối khối “của người dùng” bằng việc cung cấp các mo-dul đồng thuật như BFT (Byzantine Fault Tolerance), dBFT, POA, modul VM/RISC-V VM thích ứng Ethereum, và các mo-dul cốt lõi bổ sung khác. Các nhà phát triển cũng sẽ có thể tự lập trình mo-dul họ mong muốn.

4. Đội ngũ sáng lập

Thành viên đội ngũ Nervos bao gồm các lập trình viên có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực crypto và blockchain. Họ có kinh nghiệm xây dựng các dự án như imToken, CITA và Peatio, các client của Ethereum như ruby-ethereum và pythereum. Các thành viên này cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình nghiên cứu và phát triển mạng lưới của Ethereum và Bitcoin. Hiện nay, số lượng thành viên trong đội ngũ đã lên đến 95 người trong các bộ phận như kĩ thuật, mã hóa, kinh tế token, xây dựng cộng đồng ….

Đầu tiên là Jan Xie, anh là kỹ sư và nhà nghiên cứu tại Nervos, anh đồng thời chính là nhà sáng lập của Cryptape- một công ty xây dựng blockchain cho doanh nghiệp –CITA- blockchain mã nguồn mở, được xây dựng bằng ngôn ngữ Rust. Anh là một trong những thành viên chủ chốt trong đội nghiên cứu và phát triển giải pháp sharding cải thiện khả năng mở rộng trên mạng lưới Ethereum, làm việc trực tiếp với Vitalik.

Terry Tai là đồng sáng lập và chủ trì chương trình phát thanh lớn nhất dành cho các lập trình viên và nhà phát triển công nghệ có tên là Teahour.fm. Anh là giám đốc công nghệ tại Crytape, kỹ sư trưởng của dự án Shiren,và rất nhiều vai trò lập trình quan trọng khác.

Daniel là Nguyên Giám Đốc Kĩ Thuật tại imToken, một nền tảng ví số 1 Trung Quốc. Anh là CTO của công ty Yunbi và đồng sáng lập của ruby.china.org.

Những thành viên khác của Nervos cũng có nhiều kinh nghiệm chủ chốt trong những tập đoàn, dự án lớn. Ví dụ như Kevin Wang, anh là đồng sáng lập của Launch School, từng làm việc trong bộ phận xử lí dự liệu tại IBM Sillicon Valley Lab. Hay Bo Wang, anh là giám đốc sản phẩm của Cryptape, nguyên giám đốc tại viên nghiên cứu Blockchain của Tập đoàn đúc và in ấn tiền giấy Trung Quốc…Và rất nhiều gương mặt đình đám khác.

5. Đôi nét về CKByte

Token CKByte là token trên mạng lưới Nervos. Việc nắm giữ token CKByte cũng giống như nắm giữ hay sở hữu một phần mạng lưới chuỗi khối CKB (Common Knowledge Base) hay nói cách khác, token CKByte có chức năng lưu trữ giá trị và quản lí tài nguyên trên chuỗi khối. Tương đồng như việc người dùng sở hữu một mảnh đất trên mạng lưới, với việc sở hữu CKByte, người dùng có thể thuê không gian lưu trữ, sử dụng để lưu trữ tài sản, hợp đồng thông minh và các loại “kiến thức chung khác”, hay chỉ đơn giản và “giữ” token trong DAO của Nervos để bảo đảm giá trị.

Khi càng nhiều giá trị, token, tài sản, dữ liệu, và hợp đồng thông minh được triển khai hoặc lưu trữ trên mạng lưới, giá trị đồng CKByte sẽ được tăng lên. Đây là mô hình kinh tế token đột phá đảm bảo các tài sản có tính “lưu trữ giá trị” trên mạng lưới, giúp hợp nhất người tham gia và đảm bảo tương lai mạng lưới.

BKByte thể thiện khả năng lưu trữ của “cell”. Ví dụ, Alice có 1000 CK Bytes, cô có thể tạo là 1 “cell” với dung lượng 1000 Bytes, hoặc nhiều “cell” với tổng dung lượng là 1000 Bytes. 1000 Bytes đó được sử dụng để lưu trữ tài sản, ứng dụng và … Tổng dung lượng lưu trữ sẽ bằng hoặc nhỏ hơn số lượng lưu trữ cụ thể. Ví dụ, với một “cell” lưu trữ được 1000 bytes, Alice dùng 4 bytes để phân định cụ thể dung lượng, 64 bytes dùng cho việc khóa cell, và 128 bytes để lưu trữ, vậy thì Alice vẫn còn nhiều không gian để sử dụng do cô mới dùng 196 bytes.

Tương tự Bitcoin, CKB chưa phải là đơn vị nhỏ nhất, và chúng ta còn có CK Shannons với tỉ lệ 1 CK Byte bằng 100 000 000 CK Shannons. CK Shannons là đơn vị không thể chia nhỏ hơn, và được thiết kế trong trường hợp người ta cần chuyển giá trị nhỏ hơn 1 CKByte. Tuy nhiên, việc phát hành token CKByte lại không hoàn toàn giống như Bitcoin. Cụ thể là, tại lần đầu phát hành (initial supply), số token CKByte sẽ theo cơ chế giống như Bitcoin (và phần thưởng khối cũng sẽ giảm sau 4 năm một lần). Tuy nhiên, Nervos sẽ có cơ chế phát hành token lần 2 (hay còn gọi là secondary issuance), có vai trò quan trọng trong việc xử lí và giải quyết tình trạng lạm phát trong mạng lưới.

Chú ý: Giải đáp về Nervos DAO, đây là một mô hình hỗ trợ lạm phát giúp quản lí kho lưu trữ kênh (state) và cung cấp phần thưởng ổn định cho người đào (miner). Những người dùng token với mục đích lưu trữ giá trị có thể khóa token trong DAO của Nervos và nhận lãi suất theo tỉ lệ lạm phát, giúp giá trị tài sản luôn được duy trì.

6. Thông tin cụ thể về token sale của Nervos

Tổng lượng cung của CKByte trong khối Genesis (Khối sơ khai) là 33,6 tỉ CKB, dự án sẽ bán ra 20% trên tổng số này trong đợt bán cộng đồng sắp tới.

Giá token là 1 CKB = 0.01 USD

Token sẽ được phát hành tại Khối Đầu Tiên vào thời điểm phát hành mainnet, dự tính vào Quý 4 năm 2019.

Lượng cung đưa vào lưu thông ban đầu là 12 375 988 800 CKB

Con số cụ thể về Phân Bổ Token Nervos có thể tìm thấy tại đây

7. Quyền lợi của miner

Trong mạng lưới của Nervos, người đào được thưởng cả phần thưởng khối lẫn phí giao dịch. Họ sẽ được thưởng token ở lần phát hành nền tảng (base issuance) và một phần token trong đợt phát hành lần 2 (secondary issuance).

8. Lộ trình phát triển

Dự án Nervos đã được triển khai từ đầu năm 2018 với những lộ trình đi rất rõ ràng và đều đạt được như kì vọng. Vào Quý 3 năm 2018, Nervos đã ban đầu hoàn thành các sản phẩm như ví Neuron (phiên bản Alpha), Nervos Appchain (phiên bản Alpha), và trình duyệt blockchain Microscope (phiên bản Alpha)… Tất cả các sản phầm này đã được nâng cấp lên phiên bản Beta vào Quý 1 năm 2019. Testnet của mạng lưới Nervos cũng đã hoàn thành, trong Quý 2 và Quý 3 năm 2019, chúng ta sẽ thấy Nervos phát hành mainnet và từ đó chính thức là CKB coin, và thực hiện việc bán coin ra cộng đồng.

Thông tin đã có trên group chính thức của Nervos tại Việt Nam, chúng ta có thể truy cập theo link sau https://t.me/nervosvietnam

9 . Tóm lại

Nervos là dự án mang ý tưởng không mới, nhưng có nhiều cải biến. Nếu các blockchain khác cố gắng thay đổi thuật toán đồng thuận (một thuật toán đồng thuận mới chưa được kiểm chứng  tiềm tàng rủi ro cao) thì Nervos lại giải quyết bài toán về khả năng mở rộng và tính phi tập trung bằng các kết hợp điểm mạnh của các thuật toán ấy. Dự án được  xây dựng bởi nhiều nhà phát triển tiềm năng, tài giỏi, có những vị trí nhất định trong  các doanh nghiệp blockchain đình đám như imToken hay CITA…

Chia sẻ  
  
  
  
100% Rating
Điểm: 5 / 5
2 Bình chọn

Christina

Sự khác biệt giữa một thách thức và một cơ hội nằm ở thái độ của bạn. Khi niềm tin của bạn lớn hơn nỗi sợ hãi, thách thức sẽ thành cơ hội của bạn.

NHẬN ĐĂNG KÝ NHẬN TIN TỪ BIGCOIN VIETNAM

" TIÊU CHÍ ĐẦU TƯ ICO THÀNH CÔNG và REVIEW ICO HOT hàng tuần"

Bigcoin Việt Nam - Phân tích đầu tư Bitcoin và các dự án công nghê Blockchain