Gửi bài viết tới BigCoin

Từ Hashgraph đến HashNet của InterValue

Đăng bởi:   - 08/06/2018 - 481 lượt xem
Chia sẻ
 

Từ Hashgraph đến HashNet của InterValue

Cơ chế đồng thuận blockchain là gì?

Nói về blockchain, chúng ta không thể bỏ qua vấn đề cốt lõi của nó - sự đồng thuận. Đồng thuận có nghĩa là bỏ phiếu bằng các node đặc biệt để phức tạp hóa việc xác minh và xác nhận giao dịch trong thời gian ngắn. Đối với giao dịch, nếu một số node có lợi ích không liên quan đến nhau mà đạt được sự đồng thuận, thì giao dịch đó có thể hoạt động đại diện cho toàn bộ mạng lưới. Blockchain có thể hỗ trợ nhiều cơ chế đồng thuận khác nhau với vai trò là một cấu trúc dữ liệu theo trình tự thời gian. Sự đồng thuận là một yếu tố quan trọng trong công nghệ blockchain. Cơ chế đồng thuận blockchain nhắm đến mục đích làm cho tất cả các node thực lưu một blockchain thích hợp trong khi thỏa mãn cả hai điều sau:

(1) Tính thống nhất: tiền tố của blockchain mà tất cả các node thực đã lưu hoàn toàn giống nhau.

(2) Hiệu lực: thông tin được đưa ra bởi một trong các node thực cuối cùng sẽ được bao phủ bởi các node thực khác và lưu vào blockchain của riêng chúng.

Công nghệ Blockchain sử dụng một tập hợp các thuật toán toán học dựa trên sự thống nhất để thiết lập một mạng lưới "đáng tin cậy" giữa các máy, từ đó tạo ra tín dụng mới thông qua sự đồng thuận kỹ thuật thay vì các tổ chức tín dụng tập trung.

Vấn đề của cơ chế đồng thuận hiện nay là gì?

Có một số cơ chế đồng thuận chính: PoW, PoS, DPoS, PBFT.

PoW (Proof of Work - Bằng chứng công việc) là một chiến lược đồng thuận được sử dụng trong mạng Bitcoin. Nó đòi hỏi một quá trình tính toán phức tạp khi xác thực. Trong PoW, mỗi node trong mạng sẽ tính một giá trị băm (hash) của block header thay đổi liên tục. PoW hoàn toàn phi tập trung, tự do truy cập, nhưng việc khai thác gây ra rất nhiều tài nguyên lãng phí. Vì vậy sự đồng thuận cần một khoảng thời gian dài, không thích hợp cho ứng dụng thương mại.

PoS (Proof of stake - Bằng chứng cổ phần) là một giải pháp tiết kiệm năng lượng cho PoW. Thay vì yêu cầu người dùng sử dụng một nonce trong một không gian không giới hạn, PoS yêu cầu người dùng chứng minh quyền sở hữu số lượng tiền tệ, vì người dùng có nhiều tiền hơn sẽ ít có khả năng tấn công mạng và PoS vẫn cần khai thác.

DPoS (Delegated proof of stake - Bằng chứng được ủy quyền cổ phần). Tương tự như PoS, thợ đào coin có lợi thế khi tạo ra các block theo số cổ phần của họ. Sự khác biệt chính giữa PoS và DPoS là ở chỗ PoS là một chế độ dân chủ trực tiếp trong khi DPoS lại là một chế độ dân chủ đại diện. Toàn bộ cơ chế đồng thuận vẫn phụ thuộc vào lượng mã token, trong khi nhiều ứng dụng thương mại không cần đến mã này.

PBFT (Practical Byzantine Fault Tolerance – Tính chịu lỗi Byzantine thực tế) là một thuật toán nhân bản để chịu các lỗi Byzantine. Hyperledger sử dụng PBFT như là thuật toán đồng thuận của nó vì PBFT có thể xử lý tới 1/3 bản sao hay node độc hại byzantine. PBFT cần phải biết danh tính của mỗi node để chọn một kế toán cho mỗi khối và các node không thể tùy tiện tham gia vào hoặc thoát ra, vì vậy PBFT luôn được sử dụng cho các Blockchain riêng tư hoặc đẫ được cho phép. Việc này đêm lại hiệu quả cao, nhưng các node cần phải hoàn toàn tin tưởng lẫn nhau.

Từ một số cơ chế đồng thuận nêu trên, chúng tôi có thể kết luận rằng cơ chế đồng thuận hiện tại vẫn còn một số vấn đề như lãng phí nguồn lực, thời gian đồng thuận ngắn, hiệu quả thấp, tốc độ chậm, sự phụ thuộc vào cổ phần và độ tin cậy thấp.

Khi blockchain gặp DAG

Gần đây, nhiều ngành công nghiệp cố gắng thực hiện DAG để blockchain cấu trúc dữ liệu. InterValue sử dụng cấu trúc dữ liệu DAG cơ bản để lưu trữ dữ liệu giao dịch trong giai đoạn phát triển đầu tiên của nó. Cấu trúc dữ liệu DAG cơ bản đã được áp dụng trong một số dự án (ví dụ IOTA và Byteball) để hỗ trợ hoạt động ổn định lâu dài của các blockchain chung, chứng minh sự tiến bộ và hiệu suất của công nghệ chuỗi DAG. Trong InterValue, các thông báo giao dịch được phân thành các đơn vị (Units), và biểu đồ DAG được xây dựng bằng cách liên kết các đơn vị này. Một đơn vị phải xác nhận các đơn vị khác trước khi liên kết chúng. Do đó, chi phí tính toán và thời gian cho sự đồng thuận sẽ giảm. Điều đó phá vỡ block và sự đồng bộ hóa dữ liệu. Kết quả là làm tăng đáng kể thông lượng giao dịch và giảm thiểu thời gian xác nhận.

Hình 1: Chuỗi DAG của InterValue

Như trên hình 1, cấu trúc dữ liệu InterValue DAG so với cấu trúc khối chuỗi một-một trong blockchain, một đơn vị trong cấu trúc DAG có thể chứa nhiều đơn vị lớn cùng lúc khi giao dịch được gửi đi, vì vậy nó có thể chứa nhiều giao dịch hơn và nhận được xác nhận nhanh hơn. Đồng thời, vì ô nhập DAG sẽ được xác minh trực tiếp hoặc gián tiếp bởi tất cả các ô được kết nối với nó, nếu nội dung của ô được sửa đổi, tất cả các ô xác minh cần được sửa đổi cho phù hợp, vậy nên không thể thực hiện được sửa đổi, và tính an toàn sẽ cao hơn.

Từ phiên bản 2.0, sự đồng thuận DAG dựa trên InterValue sẽ được thay thế bằng cấu trúc dữ liệu DAG nâng cao dựa trên HashNet. HashNet là một cải tiến mới của giá trị đầu tư lớn nhất trong InterValue. Giao thức đồng thuận HashNet tập trung hình thành một hệ thống phân tán “chia để trị” thông qua “sự tự chủ trên chip, sự cộng tác giữa các chip”. Nó sử dụng một thuật toán phân mảnh cơ bản để tích hợp đồng thời từng phân mảnh, phân chia và đồng bộ tương tác giữa các slice; cân bằng hoàn hảo giữa thông lượng giao dịch, phân cấp và bảo mật.

Từ Hashgraph đến HashNet

Ban đầu, sự kết hợp giữa DAG và blockchain chỉ nhằm giải quyết các vấn đề về hiệu suất của blockchain, từ ý tưởng kết hợp các khối bên với khối và DAG lúc đầu đến DAGCoin loại bỏ khái niệm khối, sau đó đến IOTA và Bytebal đã đạt được thành công nhất định. Rất nhiều người hoài nghi về tính bảo mật của các ứng dụng DAG này và mức độ đáp ứng đồng thuận của sự phân tán. Bao gồm việc IOTA có quá phụ thuộc vào Trình xác thực không phải là nguồn mở hay không, node nhân chứng của Byteball không có khoảng trống. Vì vậy, có người đã đưa ra một loại đồng thuận khác của sự phân tán - HashGraph, không có khái niệm về khối, giao dịch và giao dịch cấu thành DAG trực tiếp.

Thuật toán đồng thuận HashGraph hiện nay đạt được sự đồng thuận của chuỗi giao dịch thông qua mạng lưới lan truyền và chiến lược bỏ phiếu ảo. Điều kiện tiên quyết của sự đồng thuận này yêu cầu khả năng bỏ phiếu của node mạng hơn 2n/3 có kết quả biểu quyết nhất trí cho sự kiện nhân chứng nổi bật, nơi có tổng số phiếu bầu, và thường được đại diện bởi số lượng mã token. Nhờ các chiến lược bỏ phiếu địa phương mà HashGraph đạt được tốc độ xác nhận giao dịch nhanh chóng. Tuy nhiên, phương pháp này tồn tại các vấn đề sau:

(1) Trong môi trường mạng diện rộng, node có tính biến động mạnh và sự biến động về khả năng biểu quyết của toàn bộ mạng cũng tăng lên. Điều này có thể dẫn đến việc hệ thống không thể tìm thấy một sự kiện đáp ứng sự đồng thuận bỏ phiếu 2n/3 trong một thời gian dài và không thể đạt được sự thống nhất.

(2) Do các yếu tố như độ ổn định của node, công suất xử lý và băng thông, khả năng của các node khác nhau khi xử lý các sự kiện cũng khác nhau rất nhiều. Nếu có một số lượng lớn các node yếu tham gia bỏ phiếu trong hệ thống, sự đồng thuận có thể không đạt được trong một thời gian dài.

(3) Trong môi trường mạng diện rộng, các node bị biến động thường xuyên có thể làm cho mạng toàn cầu được chia thành nhiều mạng con. Theo giao thức trao đổi lan truyền gossip hàng xóm, node sẽ loại bỏ định kỳ những người hàng xóm chưa được cập nhật trong một thời gian dài. Khi danh sách hàng xóm ổn định, node đạt được sự đồng thuận trong mạng con. Nếu quy mô mạng con nhỏ, node độc hại rất dễ dàng tạo ra hai sự kiện nhân chứng nổi bật trong cùng một vòng, khiến cho một giao dịch chi tiêu gấp đôi.

(4) Khi quy mô hệ thống tăng lên, mỗi node phải xử lý một số lượng lớn các gói gossip. Do đó, tốc độ lan truyền của hệ thống sẽ giảm khi số lượng node tăng lên.

Dựa trên các vấn đề hạn chế trên, InterValue đã đề xuất cơ chế đồng thuận HashNet. Như trong Hình 2, HashNet sử dụng cơ chế đồng thuận từng lớp. Các node trong mạng cấp cao hơn được gọi là các node đầy đủ và tạo thành một ban quản lý. Chúng chủ yếu chịu trách nhiệm thiết lập các phân đoạn cấp thấp và cấp thấp hơn, các nút đầy đủ mới trong vùng, các node đã thoát hoàn toàn, không tham gia vào sự đồng thuận toàn cầu và không tham gia vào hồ sơ. Như dự tính, điều này tránh được nguy cơ tắc nghẽn hiệu suất và làm tăng đáng kể lưu lượng giao dịch. Các node trong mạng mức thấp hơn được gọi là các node đầy đủ cục bộ, tạo thành phân đoạn, đạt được sự đồng thuận trong slice và sử dụng hậu tố phù hợp để đảm bảo rằng mỗi giao dịch chỉ được xử lý bởi một phân đoạn cụ thể, tránh thanh toán kép. Đồng thời, các kết quả đồng thuận trên chip được đồng bộ giữa các chip thông qua một cơ chế không đồng bộ, sao cho mỗi node đầy đủ cục bộ có sổ kế toán toàn cầu.

Hình 2: Tổng quan về HashNet dựa trên cấu trúc liên kết hai tầng Gossip

Ưu điểm của cơ chế đồng thuận HashNet:

(1) Node đầy đủ và node đầy đủ cục bộ có khả năng xử lý và ổn định mạnh để chúng có thể tránh được vấn đề khi HashGraph không thể đạt được sự đồng thuận trong một thời gian dài. Trong khi đó, các nút đầy đủ này cũng có thể tránh được sự cố toàn bộ mạng bị chia thành nhiều mạng con.

2) So với các dự án blockchain phân mảnh khác, HashNet thông qua phân phối tái tổ chức phân mảnh không đồng bộ, hoàn toàn phá vỡ cơ chế tái tổ chức phân mảnh tập trung, và cải thiện đáng kể độ bảo mật trong quá trình tái tổ chức.

3) Đồng thuận giao dịch không yêu cầu sự tham gia của các node cấp cao. Giao dịch hoàn thành rất nhanh (thời gian xác nhận giao dịch chỉ phụ thuộc vào số lượng node trên chip). Quan trọng hơn là thông lượng giao dịch, tức là TPS, tỷ lệ thuận với số lượng phân khúc cấp thấp hơn, cũng chính là số điểm. Số lượng slice càng lớn, TPS càng cao.

4) Các nút on-chip và inter-chip ngang hàng nhau, giúp tránh sự tập trung tiềm tàng và tắc nghẽn hiệu năng.

Tóm lược

In the v1.0, InterValue uses a two-layer consensus mechanism that combines the basic DAG consensus with the BA-VRF consensus. From v2.0, the basic DAG consensus of InterValue will be replaced by HashNet. Thus, the consensus mechanism of InterValue will be the combination of HashNet and the BA-VRF. DAG is no longer required to worry about security. Its excellent performance has also been fully realized. Let us look forward to the revolutionary progress that InterValue’s HashNet consensus mechanism brings to blockchain technology.

Trong phiên bản v1.0, InterValue sử dụng cơ chế đồng thuận hai lớp kết hợp sự đồng thuận DAG cơ bản và sự đồng thuận BA-VRF. Từ bản v2.0, sự đồng thuận DAG cơ bản của InterValue sẽ được thay thế bởi HashNet. Từ đó, cơ chế đồng thuận của InterValue sẽ là sự kết hợp giữa HashNet và BA-VRF. DAG sẽ không gặp vấn đề về bảo mật nữa. Hoạt động tuyệt vời của nó cũng đã trở nên rõ ràng. Hãy cùng đợi tiến trình mang tính cách mạng mà cơ chế đồng thuận HashNet của InterValue trở thành công nghệ blockchain.

Tham khảo thêm tại: http://www.inve.one/

Liên hệ Telegram của chúng tôi tại: https://t.me/InterValueProject

Nguồn: https://medium.com/@intervalueproject/from-hashgraph-to-intervalues-hashnet-70b673fbb0a4

Chia sẻ  
  
  
  
93.33% Rating
Điểm: 4.67 / 5
3 Bình chọn

Tôi là một người đam mê công nghệ, theo chủ nghĩa vị lai, và là một thành viên tích cực của core team Bigcoinvietnam.

[Cập nhật] NOIA tiết lộ quá trình phân bổ token khi niêm yết trên Kucoin


Trong khoảng 2 tuần nữa thì NOIA sẽ niêm yết token lên sàn giao dịch đầu tiên. Do thời gian không còn nhiều, chúng tôi đang hoàn thiện các chi tiết. Hôm nay, tôi sẽ thảo luận về Phân bổ token và Lịch phân bổ token.

PHÂN BỔ TOKEN NOIA

 

Phân bổ token

 

  • Initial Circulating Supply of 1.41%includes all the unlocked tokens on the day of the listing, and excludes Liquidity Provision pool. It is therefore comprised of:

Lượng token lưu thông ban đầu là 1.41% bao gồm tất cả các token mà không bị khóa trong ngày niêm yết, ngoại từ nguồn Cung Cấp Tính Thanh Khoản. Do đó thì chúng ta có:

  • Cobak LaunchPad: 750 ETH, trị giá token đã bán hết trên nền tảng Launchpad Cobak vào ngày 4/7. Tổng số token bán đi bằng 0.76% tổng lượng cung token.
  • Airdrop Thưởng cho các Noda: Trong vòng hơn 12 tháng qua, các thành viên cộng đồng NOIA đã gom được hơn 6 triệu NOIA token. Vào thời điểm NOIA được niêm yết trên sàn Kucoin, số token này sẽ chiếm 0.65% tổng lượng token.

Lượng token lưu thông sẽ rơi vào khoảng 1.41% tổng cung token tại thời điểm niêm yết ở sàn Kucoin, lượng lưu thông sẽ rơi vào khoảng 3% trong vòng 3 tháng đầu và dần tăng lên 34% vào cuối năm (ngoại trừ nguồn Cung Cấp Tính Thanh Khoản)

Nguồn Cung Cấp Tính Thanh Khoản sẽ được dùng để phân bổ cho những bên cung cấp tính thanh khoản cho token chuyên nghiệp, để đảm bảo giữ đúng điều kiện về thị trường giao dịch thuận lợi.

Vốn hóa lưu hành (tại cả thời điểm niêm yết và sau khi phân bổ token trong tháng thứ 3) giả sửa giá token là ở mức 0.033 USD/NOIA. Kết quả thực sự sẽ khác với dự tính bao đầu do giá token sẽ thay đổi liên tục.

Token dành cho những nhà đầu tư private sẽ bị khoá tại ngày niêm yết.

Niêm yết trên sàn ban đầu (IEL) sẽ diễn ra tại sàn giao dịch Kucoin vào ngày 22/7

Lịch phân bổ token NOIA  — Năm 1

Lịch phân bổ token NOIA

Phân bổ token NOIA

Phân bổ token NOIA

Summary

Hãy cùng ngóng chờ nhiều tin tức về quá trình phát triển và thành quả của chúng tôi trong vài ngày tới. Nếu bạn có câu hỏi gì, chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp.

Chúng ta hãy cùng chờ đón token NOIA và sự tiến hóa của token này. Và luôn luôn là như vậy, chúng tôi rất trân trọng sự hỗ trợ của các bạn.

Bạn đang đọc: [Cập nhật] NOIA tiết lộ quá trình phân bổ token khi niêm yết trên Kucoin

Nguồn: NOIA Medium

Chia sẻ  
  
  
  
93.33% Rating
Điểm: 4.67 / 5
3 Bình chọn

Đọc nhiều

NHẬN ĐĂNG KÝ NHẬN TIN TỪ BIGCOIN VIETNAM

" TIÊU CHÍ ĐẦU TƯ ICO THÀNH CÔNG và REVIEW ICO HOT hàng tuần"

Bigcoin Việt Nam - Phân tích đầu tư Bitcoin và các dự án công nghê Blockchain