Gửi bài viết tới BigCoin

Từ Hashgraph đến HashNet của InterValue

Đăng bởi:   - 08/06/2018 - 424 lượt xem
Chia sẻ
 

Từ Hashgraph đến HashNet của InterValue

Cơ chế đồng thuận blockchain là gì?

Nói về blockchain, chúng ta không thể bỏ qua vấn đề cốt lõi của nó - sự đồng thuận. Đồng thuận có nghĩa là bỏ phiếu bằng các node đặc biệt để phức tạp hóa việc xác minh và xác nhận giao dịch trong thời gian ngắn. Đối với giao dịch, nếu một số node có lợi ích không liên quan đến nhau mà đạt được sự đồng thuận, thì giao dịch đó có thể hoạt động đại diện cho toàn bộ mạng lưới. Blockchain có thể hỗ trợ nhiều cơ chế đồng thuận khác nhau với vai trò là một cấu trúc dữ liệu theo trình tự thời gian. Sự đồng thuận là một yếu tố quan trọng trong công nghệ blockchain. Cơ chế đồng thuận blockchain nhắm đến mục đích làm cho tất cả các node thực lưu một blockchain thích hợp trong khi thỏa mãn cả hai điều sau:

(1) Tính thống nhất: tiền tố của blockchain mà tất cả các node thực đã lưu hoàn toàn giống nhau.

(2) Hiệu lực: thông tin được đưa ra bởi một trong các node thực cuối cùng sẽ được bao phủ bởi các node thực khác và lưu vào blockchain của riêng chúng.

Công nghệ Blockchain sử dụng một tập hợp các thuật toán toán học dựa trên sự thống nhất để thiết lập một mạng lưới "đáng tin cậy" giữa các máy, từ đó tạo ra tín dụng mới thông qua sự đồng thuận kỹ thuật thay vì các tổ chức tín dụng tập trung.

Vấn đề của cơ chế đồng thuận hiện nay là gì?

Có một số cơ chế đồng thuận chính: PoW, PoS, DPoS, PBFT.

PoW (Proof of Work - Bằng chứng công việc) là một chiến lược đồng thuận được sử dụng trong mạng Bitcoin. Nó đòi hỏi một quá trình tính toán phức tạp khi xác thực. Trong PoW, mỗi node trong mạng sẽ tính một giá trị băm (hash) của block header thay đổi liên tục. PoW hoàn toàn phi tập trung, tự do truy cập, nhưng việc khai thác gây ra rất nhiều tài nguyên lãng phí. Vì vậy sự đồng thuận cần một khoảng thời gian dài, không thích hợp cho ứng dụng thương mại.

PoS (Proof of stake - Bằng chứng cổ phần) là một giải pháp tiết kiệm năng lượng cho PoW. Thay vì yêu cầu người dùng sử dụng một nonce trong một không gian không giới hạn, PoS yêu cầu người dùng chứng minh quyền sở hữu số lượng tiền tệ, vì người dùng có nhiều tiền hơn sẽ ít có khả năng tấn công mạng và PoS vẫn cần khai thác.

DPoS (Delegated proof of stake - Bằng chứng được ủy quyền cổ phần). Tương tự như PoS, thợ đào coin có lợi thế khi tạo ra các block theo số cổ phần của họ. Sự khác biệt chính giữa PoS và DPoS là ở chỗ PoS là một chế độ dân chủ trực tiếp trong khi DPoS lại là một chế độ dân chủ đại diện. Toàn bộ cơ chế đồng thuận vẫn phụ thuộc vào lượng mã token, trong khi nhiều ứng dụng thương mại không cần đến mã này.

PBFT (Practical Byzantine Fault Tolerance – Tính chịu lỗi Byzantine thực tế) là một thuật toán nhân bản để chịu các lỗi Byzantine. Hyperledger sử dụng PBFT như là thuật toán đồng thuận của nó vì PBFT có thể xử lý tới 1/3 bản sao hay node độc hại byzantine. PBFT cần phải biết danh tính của mỗi node để chọn một kế toán cho mỗi khối và các node không thể tùy tiện tham gia vào hoặc thoát ra, vì vậy PBFT luôn được sử dụng cho các Blockchain riêng tư hoặc đẫ được cho phép. Việc này đêm lại hiệu quả cao, nhưng các node cần phải hoàn toàn tin tưởng lẫn nhau.

Từ một số cơ chế đồng thuận nêu trên, chúng tôi có thể kết luận rằng cơ chế đồng thuận hiện tại vẫn còn một số vấn đề như lãng phí nguồn lực, thời gian đồng thuận ngắn, hiệu quả thấp, tốc độ chậm, sự phụ thuộc vào cổ phần và độ tin cậy thấp.

Khi blockchain gặp DAG

Gần đây, nhiều ngành công nghiệp cố gắng thực hiện DAG để blockchain cấu trúc dữ liệu. InterValue sử dụng cấu trúc dữ liệu DAG cơ bản để lưu trữ dữ liệu giao dịch trong giai đoạn phát triển đầu tiên của nó. Cấu trúc dữ liệu DAG cơ bản đã được áp dụng trong một số dự án (ví dụ IOTA và Byteball) để hỗ trợ hoạt động ổn định lâu dài của các blockchain chung, chứng minh sự tiến bộ và hiệu suất của công nghệ chuỗi DAG. Trong InterValue, các thông báo giao dịch được phân thành các đơn vị (Units), và biểu đồ DAG được xây dựng bằng cách liên kết các đơn vị này. Một đơn vị phải xác nhận các đơn vị khác trước khi liên kết chúng. Do đó, chi phí tính toán và thời gian cho sự đồng thuận sẽ giảm. Điều đó phá vỡ block và sự đồng bộ hóa dữ liệu. Kết quả là làm tăng đáng kể thông lượng giao dịch và giảm thiểu thời gian xác nhận.

Hình 1: Chuỗi DAG của InterValue

Như trên hình 1, cấu trúc dữ liệu InterValue DAG so với cấu trúc khối chuỗi một-một trong blockchain, một đơn vị trong cấu trúc DAG có thể chứa nhiều đơn vị lớn cùng lúc khi giao dịch được gửi đi, vì vậy nó có thể chứa nhiều giao dịch hơn và nhận được xác nhận nhanh hơn. Đồng thời, vì ô nhập DAG sẽ được xác minh trực tiếp hoặc gián tiếp bởi tất cả các ô được kết nối với nó, nếu nội dung của ô được sửa đổi, tất cả các ô xác minh cần được sửa đổi cho phù hợp, vậy nên không thể thực hiện được sửa đổi, và tính an toàn sẽ cao hơn.

Từ phiên bản 2.0, sự đồng thuận DAG dựa trên InterValue sẽ được thay thế bằng cấu trúc dữ liệu DAG nâng cao dựa trên HashNet. HashNet là một cải tiến mới của giá trị đầu tư lớn nhất trong InterValue. Giao thức đồng thuận HashNet tập trung hình thành một hệ thống phân tán “chia để trị” thông qua “sự tự chủ trên chip, sự cộng tác giữa các chip”. Nó sử dụng một thuật toán phân mảnh cơ bản để tích hợp đồng thời từng phân mảnh, phân chia và đồng bộ tương tác giữa các slice; cân bằng hoàn hảo giữa thông lượng giao dịch, phân cấp và bảo mật.

Từ Hashgraph đến HashNet

Ban đầu, sự kết hợp giữa DAG và blockchain chỉ nhằm giải quyết các vấn đề về hiệu suất của blockchain, từ ý tưởng kết hợp các khối bên với khối và DAG lúc đầu đến DAGCoin loại bỏ khái niệm khối, sau đó đến IOTA và Bytebal đã đạt được thành công nhất định. Rất nhiều người hoài nghi về tính bảo mật của các ứng dụng DAG này và mức độ đáp ứng đồng thuận của sự phân tán. Bao gồm việc IOTA có quá phụ thuộc vào Trình xác thực không phải là nguồn mở hay không, node nhân chứng của Byteball không có khoảng trống. Vì vậy, có người đã đưa ra một loại đồng thuận khác của sự phân tán - HashGraph, không có khái niệm về khối, giao dịch và giao dịch cấu thành DAG trực tiếp.

Thuật toán đồng thuận HashGraph hiện nay đạt được sự đồng thuận của chuỗi giao dịch thông qua mạng lưới lan truyền và chiến lược bỏ phiếu ảo. Điều kiện tiên quyết của sự đồng thuận này yêu cầu khả năng bỏ phiếu của node mạng hơn 2n/3 có kết quả biểu quyết nhất trí cho sự kiện nhân chứng nổi bật, nơi có tổng số phiếu bầu, và thường được đại diện bởi số lượng mã token. Nhờ các chiến lược bỏ phiếu địa phương mà HashGraph đạt được tốc độ xác nhận giao dịch nhanh chóng. Tuy nhiên, phương pháp này tồn tại các vấn đề sau:

(1) Trong môi trường mạng diện rộng, node có tính biến động mạnh và sự biến động về khả năng biểu quyết của toàn bộ mạng cũng tăng lên. Điều này có thể dẫn đến việc hệ thống không thể tìm thấy một sự kiện đáp ứng sự đồng thuận bỏ phiếu 2n/3 trong một thời gian dài và không thể đạt được sự thống nhất.

(2) Do các yếu tố như độ ổn định của node, công suất xử lý và băng thông, khả năng của các node khác nhau khi xử lý các sự kiện cũng khác nhau rất nhiều. Nếu có một số lượng lớn các node yếu tham gia bỏ phiếu trong hệ thống, sự đồng thuận có thể không đạt được trong một thời gian dài.

(3) Trong môi trường mạng diện rộng, các node bị biến động thường xuyên có thể làm cho mạng toàn cầu được chia thành nhiều mạng con. Theo giao thức trao đổi lan truyền gossip hàng xóm, node sẽ loại bỏ định kỳ những người hàng xóm chưa được cập nhật trong một thời gian dài. Khi danh sách hàng xóm ổn định, node đạt được sự đồng thuận trong mạng con. Nếu quy mô mạng con nhỏ, node độc hại rất dễ dàng tạo ra hai sự kiện nhân chứng nổi bật trong cùng một vòng, khiến cho một giao dịch chi tiêu gấp đôi.

(4) Khi quy mô hệ thống tăng lên, mỗi node phải xử lý một số lượng lớn các gói gossip. Do đó, tốc độ lan truyền của hệ thống sẽ giảm khi số lượng node tăng lên.

Dựa trên các vấn đề hạn chế trên, InterValue đã đề xuất cơ chế đồng thuận HashNet. Như trong Hình 2, HashNet sử dụng cơ chế đồng thuận từng lớp. Các node trong mạng cấp cao hơn được gọi là các node đầy đủ và tạo thành một ban quản lý. Chúng chủ yếu chịu trách nhiệm thiết lập các phân đoạn cấp thấp và cấp thấp hơn, các nút đầy đủ mới trong vùng, các node đã thoát hoàn toàn, không tham gia vào sự đồng thuận toàn cầu và không tham gia vào hồ sơ. Như dự tính, điều này tránh được nguy cơ tắc nghẽn hiệu suất và làm tăng đáng kể lưu lượng giao dịch. Các node trong mạng mức thấp hơn được gọi là các node đầy đủ cục bộ, tạo thành phân đoạn, đạt được sự đồng thuận trong slice và sử dụng hậu tố phù hợp để đảm bảo rằng mỗi giao dịch chỉ được xử lý bởi một phân đoạn cụ thể, tránh thanh toán kép. Đồng thời, các kết quả đồng thuận trên chip được đồng bộ giữa các chip thông qua một cơ chế không đồng bộ, sao cho mỗi node đầy đủ cục bộ có sổ kế toán toàn cầu.

Hình 2: Tổng quan về HashNet dựa trên cấu trúc liên kết hai tầng Gossip

Ưu điểm của cơ chế đồng thuận HashNet:

(1) Node đầy đủ và node đầy đủ cục bộ có khả năng xử lý và ổn định mạnh để chúng có thể tránh được vấn đề khi HashGraph không thể đạt được sự đồng thuận trong một thời gian dài. Trong khi đó, các nút đầy đủ này cũng có thể tránh được sự cố toàn bộ mạng bị chia thành nhiều mạng con.

2) So với các dự án blockchain phân mảnh khác, HashNet thông qua phân phối tái tổ chức phân mảnh không đồng bộ, hoàn toàn phá vỡ cơ chế tái tổ chức phân mảnh tập trung, và cải thiện đáng kể độ bảo mật trong quá trình tái tổ chức.

3) Đồng thuận giao dịch không yêu cầu sự tham gia của các node cấp cao. Giao dịch hoàn thành rất nhanh (thời gian xác nhận giao dịch chỉ phụ thuộc vào số lượng node trên chip). Quan trọng hơn là thông lượng giao dịch, tức là TPS, tỷ lệ thuận với số lượng phân khúc cấp thấp hơn, cũng chính là số điểm. Số lượng slice càng lớn, TPS càng cao.

4) Các nút on-chip và inter-chip ngang hàng nhau, giúp tránh sự tập trung tiềm tàng và tắc nghẽn hiệu năng.

Tóm lược

In the v1.0, InterValue uses a two-layer consensus mechanism that combines the basic DAG consensus with the BA-VRF consensus. From v2.0, the basic DAG consensus of InterValue will be replaced by HashNet. Thus, the consensus mechanism of InterValue will be the combination of HashNet and the BA-VRF. DAG is no longer required to worry about security. Its excellent performance has also been fully realized. Let us look forward to the revolutionary progress that InterValue’s HashNet consensus mechanism brings to blockchain technology.

Trong phiên bản v1.0, InterValue sử dụng cơ chế đồng thuận hai lớp kết hợp sự đồng thuận DAG cơ bản và sự đồng thuận BA-VRF. Từ bản v2.0, sự đồng thuận DAG cơ bản của InterValue sẽ được thay thế bởi HashNet. Từ đó, cơ chế đồng thuận của InterValue sẽ là sự kết hợp giữa HashNet và BA-VRF. DAG sẽ không gặp vấn đề về bảo mật nữa. Hoạt động tuyệt vời của nó cũng đã trở nên rõ ràng. Hãy cùng đợi tiến trình mang tính cách mạng mà cơ chế đồng thuận HashNet của InterValue trở thành công nghệ blockchain.

Tham khảo thêm tại: http://www.inve.one/

Liên hệ Telegram của chúng tôi tại: https://t.me/InterValueProject

Nguồn: https://medium.com/@intervalueproject/from-hashgraph-to-intervalues-hashnet-70b673fbb0a4

Chia sẻ  
  
  
  
93.33% Rating
Điểm: 4.67 / 5
3 Bình chọn

Tôi là một người đam mê công nghệ, theo chủ nghĩa vị lai, và là một thành viên tích cực của core team Bigcoinvietnam.

IEO Matic - Cách mua Matic trên Binance launchpad và một số nhận định


Giới thiệu tổng quan

Matic Network cung cấp giải pháp mở rộng 2 lớp. Nghĩa là mạng lưới sử dụng các sidechain (một blockchain riêng biệt được gắn vào blockchain gốc của nó bằng cách sử dụng một chốt hai chiều) cho các tính toán ngoài mạng lưới (offchain) trong khi đảm bảo an toàn tài sản bằng cách sử dụng khung Plasma và cơ chế đồng thuận POS để xác nhận giao dịch. Matic hướng tới mục tiêu trở thành nền tảng tiêu chuẩn mà lập trình viên có thể xây dựng và chạy các ứng dụng phi tập trung. Matic Network đã có những đóng góp to lớn cho hệ sinh thái Ethereum và đang tập tung hoàn thiện Plasma MVP (Minimum Viable Plasma), WalletConnect protocol và công cụ thông báo sự kiện Ethereum phổ biến – Dagger.

Tóm gọn: Matic sử dụng tính năng mở rộng 2 lớp giúp tăng khả năng mở rộng và sử dụng cơ chế đồng thuận POS

Matic đã và đang xây dựng thêm các ứng dụng trên hệ sinh thái Ethereum 

 

Điểm nổi bật

  • Khả mở rộng: Nhanh, chi phí thấp và giao dịch an toàn trên sidechain của Matic và mục tiêu cuối cùng khiến cho nền tảng trở thành cấp một số 1 trên Ethereum.
  • Thông lượng cao: Theo kết quả testnet nội bộ, mạng lưới đạt 10,000 giao dịch trên giây chỉ trên 1 sidechain, và khi nhiều chain thêm vào thì tốc độ giao dịch sẽ mở rộng nữa theo chiều ngang
  • Trải nghiệm người dùng: Giao diện thân thiện, lập trình viên dần di chuyển từ chain chính sang Matic chain, có ví riêng và SDK (Software Development Kit) được sự hỗ trợ của Walletconnect.
  • Bảo mật: Những người điều hành mạng lưới cũng tham gia stake theo cơ chết POS
  • Sidechains công cộng: sidechains Matic có bản chất công khai, không chịu bất kỳ sự quản lý nào và có khả năng hỗ trợ nhiều giao thức.

 

Token sale

Bán launchpad

5.000.000 USD

Tổng lượng Token

10.000.000.000 MATIC

Tổng token trong lưu thông sau sale

32,3% tổng cung

Giá bán IEO

0,00263 USD

(giá theo BNB sẽ được xác định 1 ngày trước IEO)

Token bán IEO

1.900.000.000 MATIC (19% tổng cung)

Số người nhận được lottery ticket

16.666

Số lượng

300 USD (114.068,44 MATIC)

Chính sách khóa

Không khóa

Giá private sale

1 MATIC = 0,00263 USD

Token đã bán private sale

1.7% tổng cung (170.000.000 MATIC)

Chính sách khóa token private

- 50% tại thời điểm lên sàn

- 50% còn lại lock 7 tháng

Giá seed round

1 MATIC = 0,00079 USD

Lượng bán vòng seed round

2,09% tổng supply

Chính sách quá seed round

- 50% tại thời điểm lên sàn

- 50% còn lại lock 7 tháng

Loại token

ERC-20

Trả token

Trong vòng 15 ngày kể từ ngày kết thúc IEO

 

Cách mua MATIC

Bước 1: Từ 18h ngày 01/04/2019, gửi BNB vào tài khoản tươnng ứng với số vé muốn nhận được

Một tài khoản Binance có thể nhận được tối da 5 vé. Giả sử số BNB nắm giữ trong 20 ngày của 1 người là X thì số vé của người đó được xác định theo bảng sau:

Số dư BNB nắm giữa trong 20 ngày (x)

Số vé được phát

50≤ X <200

1

200≤ X <300

2

300≤ X <400

3

400≤ X <500

4

X≤ 500

5

Lưu ý: Trong vòng 20 ngày, số BNB của bạn phải giữ ở khung số vé mà bạn mong muốn nếu bạn muốn nhận đủ vé, nếu không thì số vé của bạn sẽ bị giảm xuống hoặc bạn sẽ không nhận được vé (nếu xuống dưới mức thấp nhất là 50 BNB).

Bước 2: Sàn kiểm tra và xác định số vé của từng người đăng ký từ 7:00 05/04/2019 đến 15:00 25/04/2019

- Trong khoản thời gian từ 7:00 ngày 05/04/2019 đến 15:00 24/04/2019, Binance sẽ chụp ảnh vào lúc 7:00 mỗi ngày

- Đến 15:00 24/04/2019 đến 15h 25/04/2019 ngày sẽ phát vé số quay lottery cho tài khoản đủ điều kiện. Người chơi đăng nhập vào Binance Launchpad và ấn vào claim ticket 

Bước 3: Xác nhận trúng lottery và thu tiền đầu tư (BNB) từ nhà đầu

21:00 ngày 25/04 sàn sẽ thông báo người trúng vé mua Matic. Số lượng BNB tương ứng sẽ được khấu trừ từ tài khoản người trúng vé mua trong vòng 24 giờ

Bước 4: Trả token cho người mua

Trong vòng 15 ngày, Token sẽ được trả vào ví của người mua.

Kết luận:

Ưu

  • Tổng token trong lưu thông: 32,3% tổng cung ~3.230.000.000 => market cap hòa vốn: 8.656.400 đô => mức này ổn (BTT và FET có cap hòa vốn tầm 11 triệu đô)
  • Dự án đã có sản phẩm và ứng dụng.
  • Dự án đầu tiên theo luật mới của Binance, nhiều người có tâm lý ngại chơi và thăm dò hoặc không kịp chuẩn bị để vào=> cơ hội trúng cao.
  • Tránh tình trạng tranh cướp khổ sở.

Nhược

  • Công bằng hơn 1 chút so với trước nhưng lại có cách cheat khác đó là gom nhiều tài khoản. Rủi ro là giá BNB tăng ảo mạnh hơn và nguy cơ sụt sau IEO cao hơn trước.
  • Cơ hội dành nhiều hơn cho người gom được nhiều tài khoản BNB.

Biên soạn: BigcoinVietnam

Chia sẻ  
  
  
  
93.33% Rating
Điểm: 4.67 / 5
3 Bình chọn

Christina

Sự khác biệt giữa một thách thức và một cơ hội nằm ở thái độ của bạn. Khi niềm tin của bạn lớn hơn nỗi sợ hãi, thách thức sẽ thành cơ hội của bạn.

NHẬN FREE VÉ THAM GIA SỰ KIỆN BLOCKCONFEX HỒ CHÍ MINH

"39 TIÊU CHÍ ĐẦU TƯ ICO THÀNH CÔNG và REVIEW ICO HOT hàng tuần"

Bigcoin Việt Nam - Phân tích đầu tư Bitcoin và các dự án công nghê Blockchain